LUẬT
THƯƠNG MẠI
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỐ 36/2005/QH11 NGÀY 14
THÁNG 6 NĂM 2005
Căn
cứ vào Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng
12 năm 2001 của Quốc hội
khoá X, kỳ họp thứ 10;
Luật
này quy định về hoạt động
thương mại.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
MỤC 1
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI
TƯỢNG ÁP DỤNG
Điều 1. Phạm vi
điều chỉnh
1. Hoạt
động thương mại thực hiện
trên lãnh thổ nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Hoạt
động thương mại thực hiện
ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong trường hợp các bên
thoả thuận chọn áp dụng Luật
này hoặc luật nước ngoài,
điều ước quốc tế mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định áp
dụng Luật này.
3. Hoạt
động không nhằm mục đích
sinh lợi của một bên trong
giao dịch với thương nhân
thực hiện trên lãnh thổ nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong trường hợp
bên thực hiện hoạt động
không nhằm mục đích sinh lợi
đó chọn áp dụng Luật này.
Điều 2. Đối tượng
áp dụng
1.
Thương nhân hoạt động thương
mại theo quy định tại Điều 1
của Luật này.
2. Tổ
chức, cá nhân khác hoạt động
có liên quan đến thương mại.
3. Căn
cứ vào những nguyên tắc của
Luật này, Chính phủ quy định
cụ thể việc áp dụng Luật này
đối với cá nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập,
thường xuyên không phải đăng
ký kinh doanh.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong
Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Hoạt
động thương mại là hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi, bao
gồm mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi
khác.
2. Hàng
hóa bao gồm:
a) Tất
cả các loại động sản, kể cả
động sản hình thành trong
tương lai;
b)
Những vật gắn liền với đất
đai.
3. Thói
quen trong hoạt động thương
mại là quy tắc xử sự có nội
dung rõ ràng được hình thành
và lặp lại nhiều lần trong
một thời gian dài giữa các
bên, được các bên mặc nhiên
thừa nhận để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng thương mại.
4. Tập
quán thương mại là thói quen
được thừa nhận rộng rãi
trong hoạt động thương mại
trên một vùng, miền hoặc một
lĩnh vực thương mại, có nội
dung rõ ràng được các bên
thừa nhận để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên
trong hoạt động thương mại.
5.
Thông điệp dữ liệu là thông
tin được tạo ra, gửi đi,
nhận và lưu giữ bằng phương
tiện điện tử.
6. Văn
phòng đại diện của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam
là đơn vị phụ thuộc của
thương nhân nước ngoài, được
thành lập theo quy định của
pháp luật Việt Nam để tìm
hiểu thị trường và thực hiện
một số hoạt động xúc tiến
thương mại mà pháp luật Việt
Nam cho phép.
7. Chi
nhánh của thương nhân nước
ngoài tại Việt Nam là đơn vị
phụ thuộc của thương nhân
nước ngoài, được thành lập
và hoạt động thương mại tại
Việt Nam theo quy định của
pháp luật Việt Nam hoặc điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
8. Mua
bán hàng hoá là hoạt động
thương mại, theo đó bên bán
có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa
cho bên mua và nhận thanh
toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận
hàng và quyền sở hữu hàng
hoá theo thỏa thuận.
9. Cung
ứng dịch vụ là hoạt động
thương mại, theo đó một bên
(sau đây gọi là bên cung ứng
dịch vụ) có nghĩa vụ thực
hiện dịch vụ cho một bên
khác và nhận thanh toán; bên
sử dụng dịch vụ (sau đây gọi
là khách hàng) có nghĩa vụ
thanh toán cho bên cung ứng
dịch vụ và sử dụng dịch vụ
theo thỏa thuận.
10. Xúc
tiến thương mại là hoạt động
thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội
mua bán hàng hoá và cung ứng
dịch vụ, bao gồm hoạt động
khuyến mại, quảng cáo thương
mại, trưng bày, giới thiệu
hàng hoá, dịch vụ và hội
chợ, triển lãm thương mại.
11. Các
hoạt động trung gian thương
mại là hoạt động của thương
nhân để thực hiện các giao
dịch thương mại cho một hoặc
một số thương nhân được xác
định, bao gồm hoạt động đại
diện cho thương nhân, môi
giới thương mại, uỷ thác mua
bán hàng hoá và đại lý
thương mại.
12. Vi
phạm hợp đồng là việc một
bên không thực hiện, thực
hiện không đầy đủ hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ
theo thoả thuận giữa các bên
hoặc theo quy định của Luật
này.
13. Vi
phạm cơ bản là sự vi phạm
hợp đồng của một bên gây
thiệt hại cho bên kia đến
mức làm cho bên kia không
đạt được mục đích của việc
giao kết hợp đồng.
14.
Xuất xứ hàng hoá là nước
hoặc vùng lãnh thổ nơi sản
xuất ra toàn bộ hàng hoá
hoặc nơi thực hiện công đoạn
chế biến cơ bản cuối cùng
đối với hàng hoá trong
trường hợp có nhiều nước
hoặc vùng lãnh thổ tham gia
vào quá trình sản xuất hàng
hoá đó.
15. Các
hình thức có giá trị tương
đương văn bản bao gồm điện
báo, telex, fax, thông điệp
dữ liệu và các hình thức
khác theo quy định của pháp
luật.
Điều 4.
Áp dụng Luật thương
mại và pháp luật có liên
quan
1. Hoạt
động thương mại phải tuân
theo Luật thương mại và pháp
luật có liên quan.
2. Hoạt
động thương mại đặc thù được
quy định trong luật khác thì
áp dụng quy định của luật
đó.
3. Hoạt
động thương mại không được
quy định trong Luật thương
mại và trong các luật khác
thì áp dụng quy định của Bộ
luật dân sự.
Điều 5.
Áp dụng điều ước quốc
tế, pháp luật nước ngoài và
tập quán thương mại quốc tế
1.
Trường hợp điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên có
quy định áp dụng pháp luật
nước ngoài, tập quán thương
mại quốc tế hoặc có quy định
khác với quy định của Luật
này thì áp dụng quy định của
điều ước quốc tế đó.
2. Các
bên trong giao dịch thương
mại có yếu tố nước ngoài
được thoả thuận áp dụng pháp
luật nước ngoài, tập quán
thương mại quốc tế nếu pháp
luật nước ngoài, tập quán
thương mại quốc tế đó không
trái với các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam.
Điều 6. Thương
nhân
1.
Thương nhân bao gồm tổ chức
kinh tế được thành lập hợp
pháp, cá nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký
kinh doanh.
2.
Thương nhân có quyền hoạt
động thương mại trong các
ngành nghề, tại các địa bàn,
dưới các hình thức và theo
các phương thức mà pháp luật
không cấm.
3.
Quyền hoạt động thương mại
hợp pháp của thương nhân
được Nhà nước bảo hộ.
4. Nhà
nước thực hiện độc quyền Nhà
nước có thời hạn về hoạt
động thương mại đối với một
số hàng hóa, dịch vụ hoặc
tại một số địa bàn để bảo
đảm lợi ích quốc gia. Chính
phủ quy định cụ thể danh mục
hàng hóa, dịch vụ, địa bàn
độc quyền Nhà nước.
Điều 7. Nghĩa vụ
đăng ký kinh doanh của
thương nhân
Thương
nhân có nghĩa vụ đăng ký
kinh doanh theo quy định của
pháp luật. Trường hợp chưa
đăng ký kinh doanh, thương
nhân vẫn phải chịu trách
nhiệm về mọi hoạt động của
mình theo quy định của Luật
này và quy định khác của
pháp luật.
Điều 8. Cơ quan
quản lý nhà nước về hoạt
động thương mại
1.
Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về hoạt động thương
mại.
2. Bộ
Thương mại chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện
việc quản lý nhà nước về
hoạt động mua bán hàng hóa
và các hoạt động thương mại
cụ thể được quy định tại
Luật này.
3. Bộ,
cơ quan ngang bộ trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm thực
hiện việc quản lý nhà nước
về các hoạt động thương mại
trong lĩnh vực được phân
công.
4. Uỷ
ban nhân dân các cấp thực
hiện việc quản lý nhà nước
về các hoạt động thương mại
tại địa phương theo sự phân
cấp của Chính phủ.
Điều 9. Hiệp hội
thương mại
1. Hiệp
hội thương mại được thành
lập để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của thương
nhân, động viên thương nhân
tham gia phát triển thương
mại, tuyên truyền, phổ biến
các quy định của pháp luật
về thương mại.
2. Hiệp
hội thương mại được tổ chức
và hoạt động theo quy định
của pháp luật về hội.
MỤC 2
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Điều 10. Nguyên
tắc bình đẳng trước pháp
luật của thương nhân trong
hoạt động thương mại
Thương
nhân thuộc mọi thành phần
kinh tế bình đẳng trước pháp
luật trong hoạt động thương
mại.
Điều 11. Nguyên
tắc tự do, tự nguyện thoả
thuận trong hoạt động thương
mại
1. Các
bên có quyền tự do thoả
thuận không trái với các quy
định của pháp luật, thuần
phong mỹ tục và đạo đức xã
hội để xác lập các quyền và
nghĩa vụ của các bên trong
hoạt động thương mại. Nhà
nước tôn trọng và bảo hộ các
quyền đó.
2.
Trong hoạt động thương mại,
các bên hoàn toàn tự nguyện,
không bên nào được thực hiện
hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe
doạ, ngăn cản bên nào.
Điều 12. Nguyên
tắc áp dụng thói quen trong
hoạt động thương mại được
thiết lập giữa các bên
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, các bên được coi là
mặc nhiên áp dụng thói quen
trong hoạt động thương mại
đã được thiết lập giữa các
bên đó mà các bên đã biết
hoặc phải biết nhưng không
được trái với quy định của
pháp luật.
Điều 13. Nguyên
tắc áp dụng tập quán trong
hoạt động thương mại
Trường
hợp pháp luật không có quy
định, các bên không có thoả
thuận và không có thói quen
đã được thiết lập giữa các
bên thì áp dụng tập quán
thương mại nhưng không được
trái với những nguyên tắc
quy định trong Luật này và
trong Bộ luật dân sự.
Điều 14. Nguyên
tắc bảo vệ lợi ích chính
đáng của người tiêu dùng
1.
Thương nhân thực hiện hoạt
động thương mại có nghĩa vụ
thông tin đầy đủ, trung thực
cho người tiêu dùng về hàng
hoá và dịch vụ mà mình kinh
doanh và phải chịu trách
nhiệm về tính chính xác của
các thông tin đó.
2.
Thương nhân thực hiện hoạt
động thương mại phải chịu
trách nhiệm về chất lượng,
tính hợp pháp của hàng hoá,
dịch vụ mà mình kinh doanh.
Điều 15. Nguyên
tắc thừa nhận giá trị pháp
lý của thông điệp dữ liệu
trong hoạt động thương mại
Trong
hoạt động thương mại, các
thông điệp dữ liệu đáp ứng
các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ
thuật theo quy định của pháp
luật thì được thừa nhận có
giá trị pháp lý tương đương
văn bản.
MỤC 3
THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT
ĐỘNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
Điều 16. Thương
nhân nước ngoài hoạt động
thương mại tại Việt Nam
1.
Thương nhân nước ngoài là
thương nhân được thành lập,
đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nước
ngoài hoặc được pháp luật
nước ngoài công nhận.
2.
Thương nhân nước ngoài được
đặt Văn phòng đại diện, Chi
nhánh tại Việt Nam; thành
lập tại Việt Nam doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài theo các hình thức do
pháp luật Việt Nam quy định.
3. Văn
phòng đại diện, Chi nhánh
của thương nhân nước ngoài
tại Việt Nam có các quyền và
nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật Việt Nam. Thương
nhân nước ngoài phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật
Việt Nam về toàn bộ hoạt
động của Văn phòng đại diện,
Chi nhánh của mình tại Việt
Nam.
4.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được thương nhân
nước ngoài thành lập tại
Việt Nam theo quy định của
pháp luật Việt Nam hoặc điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên thì được coi là
thương nhân Việt Nam.
Điều 17. Quyền
của Văn phòng đại diện
1. Hoạt
động đúng mục đích, phạm vi
và thời hạn được quy định
trong giấy phép thành lập
Văn phòng đại diện.
2. Thuê
trụ sở, thuê, mua các phương
tiện, vật dụng cần thiết cho
hoạt động của Văn phòng đại
diện.
3.
Tuyển dụng lao động là người
Việt Nam, người nước ngoài
để làm việc tại Văn phòng
đại diện theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
4. Mở
tài khoản bằng ngoại tệ,
bằng đồng Việt Nam có gốc
ngoại tệ tại ngân hàng được
phép hoạt động tại Việt Nam
và chỉ được sử dụng tài
khoản này vào hoạt động của
Văn phòng đại diện.
5. Có
con dấu mang tên Văn phòng
đại diện theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
6. Các
quyền khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 18. Nghĩa vụ
của Văn phòng đại diện
1.
Không được thực hiện hoạt
động sinh lợi trực tiếp tại
Việt Nam.
2. Chỉ
được thực hiện các hoạt động
xúc tiến thương mại trong
phạm vi mà Luật này cho
phép.
3.
Không được giao kết hợp
đồng, sửa đổi, bổ sung hợp
đồng đã giao kết của thương
nhân nước ngoài, trừ trường
hợp Trưởng Văn phòng đại
diện có giấy uỷ quyền hợp
pháp của thương nhân nước
ngoài hoặc các trường hợp
quy định tại các khoản 2, 3
và 4 Điều 17 của Luật này.
4. Nộp
thuế, phí, lệ phí và thực
hiện các nghĩa vụ tài chính
khác theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
5. Báo
cáo hoạt động của Văn phòng
đại diện theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
6. Các
nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 19. Quyền
của Chi nhánh
1. Thuê
trụ sở, thuê, mua các phương
tiện, vật dụng cần thiết cho
hoạt động của Chi nhánh.
2.
Tuyển dụng lao động là người
Việt Nam, người nước ngoài
để làm việc tại Chi nhánh
theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
3. Giao
kết hợp đồng tại Việt Nam
phù hợp với nội dung hoạt
động được quy định trong
giấy phép thành lập Chi
nhánh và theo quy định của
Luật này.
4. Mở
tài khoản bằng đồng Việt
Nam, bằng ngoại tệ tại ngân
hàng được phép hoạt động tại
Việt Nam.
5.
Chuyển lợi nhuận ra nước
ngoài theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
6. Có
con dấu mang tên Chi nhánh
theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
7. Thực
hiện các hoạt động mua bán
hàng hóa và các hoạt động
thương mại khác phù hợp với
giấy phép thành lập theo quy
định của pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.
8. Các
quyền khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 20. Nghĩa vụ
của Chi nhánh
1. Thực
hiện chế độ kế toán theo quy
định của pháp luật Việt Nam;
trường hợp cần áp dụng chế
độ kế toán thông dụng khác
thì phải được Bộ Tài chính
nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam chấp thuận.
2. Báo
cáo hoạt động của Chi nhánh
theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
3. Các
nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 21. Quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài
Quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
được xác định theo quy định
của pháp luật Việt Nam hoặc
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Điều 22. Thẩm
quyền cho phép thương nhân
nước ngoài hoạt động thương
mại tại Việt Nam
1.
Chính phủ thống nhất quản lý
việc cho phép thương nhân
nước ngoài hoạt động thương
mại tại Việt Nam.
2. Bộ
Kế hoạch và Đầu tư chịu
trách nhiệm trước Chính phủ
quản lý việc cấp giấy phép
cho thương nhân nước ngoài
đầu tư vào Việt Nam theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
3. Bộ
Thương mại chịu trách nhiệm
trước Chính phủ quản lý việc
cấp giấy phép thành lập Văn
phòng đại diện của thương
nhân nước ngoài tại Việt
Nam; thành lập Chi nhánh,
doanh nghiệp liên doanh,
doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài tại Việt Nam trong
trường hợp thương nhân đó
chuyên thực hiện hoạt động
mua bán hàng hóa và các hoạt
động liên quan trực tiếp đến
mua bán hàng hóa theo pháp
luật Việt Nam và phù hợp với
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
4.
Trường hợp pháp luật chuyên
ngành có quy định cụ thể về
thẩm quyền của bộ, cơ quan
ngang bộ chịu trách nhiệm
trước Chính phủ quản lý việc
cấp giấy phép cho thương
nhân nước ngoài hoạt động
thương mại tại Việt Nam thì
thực hiện theo quy định của
pháp luật chuyên ngành đó.
Điều 23. Chấm dứt
hoạt động tại Việt Nam của
thương nhân nước ngoài
1.
Thương nhân nước ngoài chấm
dứt hoạt động tại Việt Nam
trong các trường hợp sau
đây:
a) Hết
thời hạn hoạt động ghi trong
giấy phép;
b) Theo
đề nghị của thương nhân và
được cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền chấp
nhận;
c) Theo
quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền do
vi phạm pháp luật và quy
định của giấy phép;
d) Do
thương nhân bị tuyên bố phá
sản;
đ) Khi
thương nhân nước ngoài chấm
dứt hoạt động theo quy định
của pháp luật nước ngoài đối
với hình thức Văn phòng đại
diện, Chi nhánh và tham gia
hợp đồng hợp tác kinh doanh
với bên Việt Nam;
e) Các
trường hợp khác theo quy
định của pháp luật.
2.
Trước khi chấm dứt hoạt động
tại Việt Nam, thương nhân
nước ngoài có nghĩa vụ thanh
toán các khoản nợ và các
nghĩa vụ khác với Nhà nước,
tổ chức, cá nhân có liên
quan tại Việt Nam.
CHƯƠNG II
MUA BÁN HÀNG HÓA
MỤC 1
CÁC QUY ĐỊNH CHUNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Điều 24. Hình
thức hợp đồng mua bán hàng
hoá
1. Hợp
đồng mua bán hàng hoá được
thể hiện bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc được xác lập
bằng hành vi cụ thể.
2. Đối
với các loại hợp đồng mua
bán hàng hoá mà pháp luật
quy định phải được lập thành
văn bản thì phải tuân theo
các quy định đó.
Điều 25. Hàng hoá
cấm kinh doanh, hàng hoá hạn
chế kinh doanh, hàng hóa
kinh doanh có điều kiện
1. Căn
cứ vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng thời kỳ và
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, Chính phủ quy
định cụ thể danh mục hàng
hoá cấm kinh doanh, hàng hoá
hạn chế kinh doanh, hàng hoá
kinh doanh có điều kiện và
điều kiện để được kinh doanh
hàng hóa đó.
2. Đối
với hàng hoá hạn chế kinh
doanh, hàng hoá kinh doanh
có điều kiện, việc mua bán
chỉ được thực hiện khi hàng
hoá và các bên mua bán hàng
hóa đáp ứng đầy đủ các điều
kiện theo quy định của pháp
luật.
Điều 26.
Áp dụng biện pháp
khẩn cấp đối với hàng hóa
lưu thông trong nước
1. Hàng
hóa đang được lưu thông hợp
pháp trong nước bị áp dụng
một hoặc các biện pháp buộc
phải thu hồi, cấm lưu thông,
tạm ngừng lưu thông, lưu
thông có điều kiện hoặc phải
có giấy phép đối với một
trong các trường hợp sau
đây:
a) Hàng
hóa đó là nguồn gốc hoặc
phương tiện lây truyền các
loại dịch bệnh;
b) Khi
xảy ra tình trạng khẩn cấp.
2. Các
điều kiện cụ thể, trình tự,
thủ tục và thẩm quyền công
bố việc áp dụng biện pháp
khẩn cấp đối với hàng hóa
lưu thông trong nước được
thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Điều 27. Mua bán
hàng hoá quốc tế
1. Mua
bán hàng hoá quốc tế được
thực hiện dưới các hình thức
xuất khẩu, nhập khẩu, tạm
nhập, tái xuất, tạm xuất,
tái nhập và chuyển khẩu.
2. Mua
bán hàng hoá quốc tế phải
được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng bằng văn bản hoặc
bằng hình thức khác có giá
trị pháp lý tương đương.
Điều 28. Xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá
1. Xuất
khẩu hàng hóa là việc hàng
hoá được đưa ra khỏi lãnh
thổ Việt Nam hoặc đưa vào
khu vực đặc biệt nằm trên
lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng
theo quy định của pháp luật.
2. Nhập
khẩu hàng hóa là việc hàng
hoá được đưa vào lãnh thổ
Việt Nam từ nước ngoài hoặc
từ khu vực đặc biệt nằm trên
lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng
theo quy định của pháp luật.
3. Căn
cứ vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng thời kỳ và
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, Chính phủ quy
định cụ thể danh mục hàng
hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập
khẩu, danh mục hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu theo giấy
phép của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và thủ tục cấp
giấy phép.
Điều 29. Tạm
nhập, tái xuất, tạm xuất,
tái nhập hàng hoá
1. Tạm
nhập, tái xuất hàng hóa là
việc hàng hoá được đưa từ
nước ngoài hoặc từ các khu
vực đặc biệt nằm trên lãnh
thổ Việt Nam được coi là khu
vực hải quan riêng theo quy
định của pháp luật vào Việt
Nam, có làm thủ tục nhập
khẩu vào Việt Nam và làm thủ
tục xuất khẩu chính hàng hoá
đó ra khỏi Việt Nam.
2. Tạm
xuất, tái nhập hàng hóa là
việc hàng hoá được đưa ra
nước ngoài hoặc đưa vào các
khu vực đặc biệt nằm trên
lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng
theo quy định của pháp luật,
có làm thủ tục xuất khẩu ra
khỏi Việt Nam và làm thủ tục
nhập khẩu lại chính hàng hoá
đó vào Việt Nam.
3.
Chính phủ quy định chi tiết
về hoạt động tạm nhập, tái
xuất, tạm xuất, tái nhập
hàng hóa.
Điều 30. Chuyển
khẩu hàng hoá
1.
Chuyển khẩu hàng hóa là việc
mua hàng từ một nước, vùng
lãnh thổ để bán sang một
nước, vùng lãnh thổ ngoài
lãnh thổ Việt Nam mà không
làm thủ tục nhập khẩu vào
Việt Nam và không làm thủ
tục xuất khẩu ra khỏi Việt
Nam.
2.
Chuyển khẩu hàng hóa được
thực hiện theo các hình thức
sau đây:
a) Hàng
hóa được vận chuyển thẳng từ
nước xuất khẩu đến nước nhập
khẩu không qua cửa khẩu Việt
Nam;
b) Hàng
hóa được vận chuyển từ nước
xuất khẩu đến nước nhập khẩu
có qua cửa khẩu Việt Nam
nhưng không làm thủ tục nhập
khẩu vào Việt Nam và không
làm thủ tục xuất khẩu ra
khỏi Việt Nam;
c) Hàng
hóa được vận chuyển từ nước
xuất khẩu đến nước nhập khẩu
có qua cửa khẩu Việt Nam và
đưa vào kho ngoại quan, khu
vực trung chuyển hàng hoá
tại các cảng Việt Nam, không
làm thủ tục nhập khẩu vào
Việt Nam và không làm thủ
tục xuất khẩu ra khỏi Việt
Nam.
3.
Chính phủ quy định chi tiết
về hoạt động chuyển khẩu
hàng hóa.
Điều 31.
Áp dụng các biện pháp
khẩn cấp đối với hoạt động
mua bán hàng hóa quốc tế
Trong
trường hợp cần thiết, để bảo
vệ an ninh quốc gia và các
lợi ích quốc gia khác phù
hợp với pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, Thủ tướng
Chính phủ quyết định áp dụng
các biện pháp khẩn cấp đối
với hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế.
Điều 32. Nhãn
hàng hóa lưu thông trong
nước và hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu
1. Nhãn
hàng hoá là bản viết, bản
in, bản vẽ, bản chụp của
chữ, hình vẽ, hình ảnh được
dán, in, đính, đúc, chạm,
khắc trực tiếp trên hàng
hoá, bao bì thương phẩm của
hàng hoá hoặc trên các chất
liệu khác được gắn lên hàng
hoá, bao bì thương phẩm của
hàng hoá.
2. Hàng
hóa lưu thông trong nước,
hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu phải có nhãn hàng hóa,
trừ một số trường hợp theo
quy định của pháp luật.
3. Các
nội dung cần ghi trên nhãn
hàng hóa và việc ghi nhãn
hàng hóa được thực hiện theo
quy định của Chính phủ.
Điều 33. Giấy
chứng nhận xuất xứ hàng hoá
và quy tắc xuất xứ hàng hóa
1. Hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu
phải có giấy chứng nhận xuất
xứ trong các trường hợp sau
đây:
a) Hàng
hóa được hưởng ưu đãi về
thuế hoặc ưu đãi khác;
b) Theo
quy định của pháp luật Việt
Nam hoặc điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
2.
Chính phủ quy định chi tiết
về quy tắc xuất xứ hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu.
MỤC 2
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC
BÊN TRONG HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA
Điều 34. Giao
hàng và chứng từ liên quan
đến hàng hóa
1. Bên
bán phải giao hàng, chứng từ
theo thỏa thuận trong hợp
đồng về số lượng, chất
lượng, cách thức đóng gói,
bảo quản và các quy định
khác trong hợp đồng.
2.
Trường hợp không có thỏa
thuận cụ thể, bên bán có
nghĩa vụ giao hàng và chứng
từ liên quan theo quy định
của Luật này.
Điều 35. Địa điểm
giao hàng
1. Bên
bán có nghĩa vụ giao hàng
đúng địa điểm đã thoả thuận.
2.
Trường hợp không có thoả
thuận về địa điểm giao hàng
thì địa điểm giao hàng được
xác định như sau:
a)
Trường hợp hàng hoá là vật
gắn liền với đất đai thì bên
bán phải giao hàng tại nơi
có hàng hoá đó;
b)
Trường hợp trong hợp đồng có
quy định về vận chuyển hàng
hoá thì bên bán có nghĩa vụ
giao hàng cho người vận
chuyển đầu tiên;
c)
Trường hợp trong hợp đồng
không có quy định về vận
chuyển hàng hoá, nếu vào
thời điểm giao kết hợp đồng,
các bên biết được địa điểm
kho chứa hàng, địa điểm xếp
hàng hoặc nơi sản xuất, chế
tạo hàng hoá thì bên bán
phải giao hàng tại địa điểm
đó;
d)
Trong các trường hợp khác,
bên bán phải giao hàng tại
địa điểm kinh doanh của bên
bán, nếu không có địa điểm
kinh doanh thì phải giao
hàng tại nơi cư trú của bên
bán được xác định tại thời
điểm giao kết hợp đồng mua
bán.
Điều 36. Trách
nhiệm khi giao hàng có liên
quan đến người vận chuyển
1.
Trường hợp hàng hóa được
giao cho người vận chuyển
nhưng không được xác định rõ
bằng ký mã hiệu trên hàng
hóa, chứng từ vận chuyển
hoặc cách thức khác thì bên
bán phải thông báo cho bên
mua về việc đã giao hàng cho
người vận chuyển và phải xác
định rõ tên và cách thức
nhận biết hàng hoá được vận
chuyển.
2.
Trường hợp bên bán có nghĩa
vụ thu xếp việc chuyên chở
hàng hoá thì bên bán phải ký
kết các hợp đồng cần thiết
để việc chuyên chở được thực
hiện tới đích bằng các
phương tiện chuyên chở thích
hợp với hoàn cảnh cụ thể và
theo các điều kiện thông
thường đối với phương thức
chuyên chở đó.
3.
Trường hợp bên bán không có
nghĩa vụ mua bảo hiểm cho
hàng hoá trong quá trình vận
chuyển, nếu bên mua có yêu
cầu thì bên bán phải cung
cấp cho bên mua những thông
tin cần thiết liên quan đến
hàng hoá và việc vận chuyển
hàng hoá để tạo điều kiện
cho bên mua mua bảo hiểm cho
hàng hoá đó.
Điều 37. Thời hạn
giao hàng
1. Bên
bán phải giao hàng vào đúng
thời điểm giao hàng đã thoả
thuận trong hợp đồng.
2.
Trường hợp chỉ có thỏa thuận
về thời hạn giao hàng mà
không xác định thời điểm
giao hàng cụ thể thì bên bán
có quyền giao hàng vào bất
kỳ thời điểm nào trong thời
hạn đó và phải thông báo
trước cho bên mua.
3.
Trường hợp không có thỏa
thuận về thời hạn giao hàng
thì bên bán phải giao hàng
trong một thời hạn hợp lý
sau khi giao kết hợp đồng.
Điều 38. Giao
hàng trước thời hạn đã thỏa
thuận
Trường
hợp bên bán giao hàng trước
thời hạn đã thỏa thuận thì
bên mua có quyền nhận hoặc
không nhận hàng nếu các bên
không có thoả thuận khác.
Điều 39. Hàng hoá
không phù hợp với hợp đồng
1.
Trường hợp hợp đồng không có
quy định cụ thể thì hàng hoá
được coi là không phù hợp
với hợp đồng khi hàng hoá đó
thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a)
Không phù hợp với mục đích
sử dụng thông thường của các
hàng hoá cùng chủng loại;
b)
Không phù hợp với bất kỳ mục
đích cụ thể nào mà bên mua
đã cho bên bán biết hoặc bên
bán phải biết vào thời điểm
giao kết hợp đồng;
c)
Không bảo đảm chất lượng như
chất lượng của mẫu hàng hoá
mà bên bán đã giao cho bên
mua;
d)
Không được bảo quản, đóng
gói theo cách thức thông
thường đối với loại hàng hoá
đó hoặc không theo cách thức
thích hợp để bảo quản hàng
hoá trong trường hợp không
có cách thức bảo quản thông
thường.
2. Bên
mua có quyền từ chối nhận
hàng nếu hàng hoá không phù
hợp với hợp đồng theo quy
định tại khoản 1 Điều này.
Điều 40. Trách
nhiệm đối với hàng hoá không
phù hợp với hợp đồng
Trừ
trường hợp các bên có thoả
thuận khác, trách nhiệm đối
với hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng được quy định
như sau:
1. Bên
bán không chịu trách nhiệm
về bất kỳ khiếm khuyết nào
của hàng hoá nếu vào thời
điểm giao kết hợp đồng bên
mua đã biết hoặc phải biết
về những khiếm khuyết đó;
2. Trừ
trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều này, trong thời
hạn khiếu nại theo quy định
của Luật này, bên bán phải
chịu trách nhiệm về bất kỳ
khiếm khuyết nào của hàng
hoá đã có trước thời điểm
chuyển rủi ro cho bên mua,
kể cả trường hợp khiếm
khuyết đó được phát hiện sau
thời điểm chuyển rủi ro;
3. Bên
bán phải chịu trách nhiệm về
khiếm khuyết của hàng hóa
phát sinh sau thời điểm
chuyển rủi ro nếu khiếm
khuyết đó do bên bán vi phạm
hợp đồng.
Điều 41. Khắc
phục trong trường hợp giao
thiếu hàng, giao hàng không
phù hợp với hợp đồng
1. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, nếu hợp đồng chỉ quy
định thời hạn giao hàng và
không xác định thời điểm
giao hàng cụ thể mà bên bán
giao hàng trước khi hết thời
hạn giao hàng và giao thiếu
hàng hoặc giao hàng không
phù hợp với hợp đồng thì bên
bán vẫn có thể giao phần
hàng còn thiếu hoặc thay thế
hàng hoá cho phù hợp với hợp
đồng hoặc khắc phục sự không
phù hợp của hàng hoá trong
thời hạn còn lại.
2. Khi
bên bán thực hiện việc khắc
phục quy định tại khoản 1
Điều này mà gây bất lợi hoặc
làm phát sinh chi phí bất
hợp lý cho bên mua thì bên
mua có quyền yêu cầu bên bán
khắc phục bất lợi hoặc chịu
chi phí đó.
Điều 42. Giao
chứng từ liên quan đến hàng
hoá
1.
Trường hợp có thỏa thuận về
việc giao chứng từ thì bên
bán có nghĩa vụ giao chứng
từ liên quan đến hàng hoá
cho bên mua trong thời hạn,
tại địa điểm và bằng phương
thức đã thỏa thuận.
2.
Trường hợp không có thỏa
thuận về thời hạn, địa điểm
giao chứng từ liên quan đến
hàng hoá cho bên mua thì bên
bán phải giao chứng từ liên
quan đến hàng hoá cho bên
mua trong thời hạn và tại
địa điểm hợp lý để bên mua
có thể nhận hàng.
3.
Trường hợp bên bán đã giao
chứng từ liên quan đến hàng
hoá trước thời hạn thỏa
thuận thì bên bán vẫn có thể
khắc phục những thiếu sót
của các chứng từ này trong
thời hạn còn lại.
4. Khi
bên bán thực hiện việc khắc
phục những thiếu sót quy
định tại khoản 3 Điều này mà
gây bất lợi hoặc làm phát
sinh chi phí bất hợp lý cho
bên mua thì bên mua có quyền
yêu cầu bên bán khắc phục
bất lợi hoặc chịu chi phí
đó.
Điều 43. Giao
thừa hàng
1.
Trường hợp bên bán giao thừa
hàng thì bên mua có quyền từ
chối hoặc chấp nhận số hàng
thừa đó.
2.
Trường hợp bên mua chấp nhận
số hàng thừa thì phải thanh
toán theo giá thoả thuận
trong hợp đồng nếu các bên
không có thoả thuận khác.
Điều 44. Kiểm tra
hàng hoá trước khi giao hàng
1.
Trường hợp các bên có thoả
thuận để bên mua hoặc đại
diện của bên mua tiến hành
kiểm tra hàng hoá trước khi
giao hàng thì bên bán phải
bảo đảm cho bên mua hoặc đại
diện của bên mua có điều
kiện tiến hành việc kiểm
tra.
2. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên mua hoặc đại diện
của bên mua trong trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều
này phải kiểm tra hàng hóa
trong một thời gian ngắn
nhất mà hoàn cảnh thực tế
cho phép; trường hợp hợp
đồng có quy định về việc vận
chuyển hàng hóa thì việc
kiểm tra hàng hoá có thể
được hoãn lại cho tới khi
hàng hoá được chuyển tới địa
điểm đến.
3.
Trường hợp bên mua hoặc đại
diện của bên mua không thực
hiện việc kiểm tra hàng hóa
trước khi giao hàng theo
thỏa thuận thì bên bán có
quyền giao hàng theo hợp
đồng.
4. Bên
bán không phải chịu trách
nhiệm về những khiếm khuyết
của hàng hoá mà bên mua hoặc
đại diện của bên mua đã biết
hoặc phải biết nhưng không
thông báo cho bên bán trong
thời hạn hợp lý sau khi kiểm
tra hàng hoá.
5. Bên
bán phải chịu trách nhiệm về
những khiếm khuyết của hàng
hoá mà bên mua hoặc đại diện
của bên mua đã kiểm tra nếu
các khiếm khuyết của hàng
hoá không thể phát hiện được
trong quá trình kiểm tra
bằng biện pháp thông thường
và bên bán đã biết hoặc phải
biết về các khiếm khuyết đó
nhưng không thông báo cho
bên mua.
Điều 45. Nghĩa vụ
bảo đảm quyền sở hữu đối với
hàng hoá
Bên bán
phải bảo đảm:
1.
Quyền sở hữu của bên mua đối
với hàng hóa đã bán không bị
tranh chấp bởi bên thứ ba;
2. Hàng
hóa đó phải hợp pháp;
3. Việc
chuyển giao hàng hoá là hợp
pháp.
Điều 46. Nghĩa vụ
bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ
đối với hàng hoá
1. Bên
bán không được bán hàng hóa
vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ. Bên bán phải chịu trách
nhiệm trong trường hợp có
tranh chấp liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ đối với
hàng hóa đã bán.
2.
Trường hợp bên mua yêu cầu
bên bán phải tuân theo bản
vẽ kỹ thuật, thiết kế, công
thức hoặc những số liệu chi
tiết do bên mua cung cấp thì
bên mua phải chịu trách
nhiệm về các khiếu nại liên
quan đến những vi phạm quyền
sở hữu trí tuệ phát sinh từ
việc bên bán đã tuân thủ
những yêu cầu của bên mua.
Điều 47. Yêu cầu
thông báo
1. Bên
bán mất quyền viện dẫn quy
định tại khoản 2 Điều 46 của
Luật này nếu bên bán không
thông báo ngay cho bên mua
về khiếu nại của bên thứ ba
đối với hàng hoá được giao
sau khi bên bán đã biết hoặc
phải biết về khiếu nại đó,
trừ trường hợp bên mua đã
biết hoặc phải biết về khiếu
nại của bên thứ ba.
2. Bên
mua mất quyền viện dẫn quy
định tại Điều 45 và khoản 1
Điều 46 của Luật này nếu bên
mua không thông báo ngay cho
bên bán về khiếu nại của bên
thứ ba đối với hàng hoá được
giao sau khi bên mua đã biết
hoặc phải biết về khiếu nại
đó, trừ trường hợp bên bán
biết hoặc phải biết về khiếu
nại của bên thứ ba.
Điều 48. Nghĩa vụ
của bên bán trong trường hợp
hàng hóa là đối tượng của
biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự
Trường
hợp hàng hoá được bán là đối
tượng của biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự
thì bên bán phải thông báo
cho bên mua về biện pháp bảo
đảm và phải được sự đồng ý
của bên nhận bảo đảm về việc
bán hàng hóa đó.
Điều 49. Nghĩa vụ
bảo hành hàng hoá
1.
Trường hợp hàng hoá mua bán
có bảo hành thì bên bán phải
chịu trách nhiệm bảo hành
hàng hoá đó theo nội dung và
thời hạn đã thỏa thuận.
2. Bên
bán phải thực hiện nghĩa vụ
bảo hành trong thời gian
ngắn nhất mà hoàn cảnh thực
tế cho phép.
3. Bên
bán phải chịu các chi phí về
việc bảo hành, trừ trường
hợp có thoả thuận khác.
Điều 50. Thanh
toán
1. Bên
mua có nghĩa vụ thanh toán
tiền mua hàng và nhận hàng
theo thỏa thuận.
2. Bên
mua phải tuân thủ các phương
thức thanh toán, thực hiện
việc thanh toán theo trình
tự, thủ tục đã thỏa thuận và
theo quy định của pháp luật.
3. Bên
mua vẫn phải thanh toán tiền
mua hàng trong trường hợp
hàng hoá mất mát, hư hỏng
sau thời điểm rủi ro được
chuyển từ bên bán sang bên
mua, trừ trường hợp mất mát,
hư hỏng do lỗi của bên bán
gây ra.
Điều 51. Việc
ngừng thanh toán tiền mua
hàng
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, việc ngừng thanh toán
tiền mua hàng được quy định
như sau:
1. Bên
mua có bằng chứng về việc
bên bán lừa dối thì có quyền
tạm ngừng việc thanh toán;
2. Bên
mua có bằng chứng về việc
hàng hóa đang là đối tượng
bị tranh chấp thì có quyền
tạm ngừng thanh toán cho đến
khi việc tranh chấp đã được
giải quyết;
3. Bên
mua có bằng chứng về việc
bên bán đã giao hàng không
phù hợp với hợp đồng thì có
quyền tạm ngừng thanh toán
cho đến khi bên bán đã khắc
phục sự không phù hợp đó;
4.
Trường hợp tạm ngừng thanh
toán theo quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này mà
bằng chứng do bên mua đưa ra
không xác thực, gây thiệt
hại cho bên bán thì bên mua
phải bồi thường thiệt hại đó
và chịu các chế tài khác
theo quy định của Luật này.
Điều 52. Xác định
giá
Trường
hợp không có thoả thuận về
giá hàng hoá, không có thoả
thuận về phương pháp xác
định giá và cũng không có
bất kỳ chỉ dẫn nào khác về
giá thì giá của hàng hoá
được xác định theo giá của
loại hàng hoá đó trong các
điều kiện tương tự về phương
thức giao hàng, thời điểm
mua bán hàng hoá, thị trường
địa lý, phương thức thanh
toán và các điều kiện khác
có ảnh hưởng đến giá.
Điều 53. Xác định
giá theo trọng lượng
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu giá được xác định
theo trọng lượng của hàng
hoá thì trọng lượng đó là
trọng lượng tịnh.
Điều 54. Địa điểm
thanh toán
Trường
hợp không có thỏa thuận về
địa điểm thanh toán cụ thể
thì bên mua phải thanh toán
cho bên bán tại một trong
các địa điểm sau đây:
1. Địa
điểm kinh doanh của bên bán
được xác định vào thời điểm
giao kết hợp đồng, nếu không
có địa điểm kinh doanh thì
tại nơi cư trú của bên bán;
2. Địa
điểm giao hàng hoặc giao
chứng từ, nếu việc thanh
toán được tiến hành đồng
thời với việc giao hàng hoặc
giao chứng từ.
Điều 55. Thời hạn
thanh toán
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, thời hạn thanh toán
được quy định như sau:
1. Bên
mua phải thanh toán cho bên
bán vào thời điểm bên bán
giao hàng hoặc giao chứng từ
liên quan đến hàng hoá;
2. Bên
mua không có nghĩa vụ thanh
toán cho đến khi có thể kiểm
tra xong hàng hoá trong
trường hợp có thỏa thuận
theo quy định tại Điều 44
của Luật này.
Điều 56. Nhận
hàng
Bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng theo
thoả thuận và thực hiện
những công việc hợp lý để
giúp bên bán giao hàng.
Điều 57. Chuyển
rủi ro trong trường hợp có
địa điểm giao hàng xác định
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu bên bán có nghĩa
vụ giao hàng cho bên mua tại
một địa điểm nhất định thì
rủi ro về mất mát hoặc hư
hỏng hàng hoá được chuyển
cho bên mua khi hàng hoá đã
được giao cho bên mua hoặc
người được bên mua uỷ quyền
đã nhận hàng tại địa điểm
đó, kể cả trong trường hợp
bên bán được uỷ quyền giữ
lại các chứng từ xác lập
quyền sở hữu đối với hàng
hoá.
Điều 58. Chuyển
rủi ro trong trường hợp
không có địa điểm giao hàng
xác định
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu hợp đồng có quy
định về việc vận chuyển hàng
hoá và bên bán không có
nghĩa vụ giao hàng tại một
địa điểm nhất định thì rủi
ro về mất mát hoặc hư hỏng
hàng hoá được chuyển cho bên
mua khi hàng hoá đã được
giao cho người vận chuyển
đầu tiên.
Điều 59. Chuyển
rủi ro trong trường hợp giao
hàng cho người nhận hàng để
giao mà không phải là người
vận chuyển
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu hàng hoá đang được
người nhận hàng để giao nắm
giữ mà không phải là người
vận chuyển thì rủi ro về mất
mát hoặc hư hỏng hàng hoá
được chuyển cho bên mua
thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
1. Khi
bên mua nhận được chứng từ
sở hữu hàng hoá;
2. Khi
người nhận hàng để giao xác
nhận quyền chiếm hữu hàng
hoá của bên mua.
Điều 60. Chuyển
rủi ro trong trường hợp mua
bán hàng hoá đang trên đường
vận chuyển
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, nếu đối tượng của hợp
đồng là hàng hoá đang trên
đường vận chuyển thì rủi ro
về mất mát hoặc hư hỏng hàng
hoá được chuyển cho bên mua
kể từ thời điểm giao kết hợp
đồng.
Điều 61. Chuyển
rủi ro trong các trường hợp
khác
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, việc chuyển rủi ro
trong các trường hợp khác
được quy định như sau:
1.
Trong trường hợp không được
quy định tại các điều 57,
58, 59 và 60 của Luật này
thì rủi ro về mất mát hoặc
hư hỏng hàng hoá được chuyển
cho bên mua, kể từ thời điểm
hàng hóa thuộc quyền định
đoạt của bên mua và bên mua
vi phạm hợp đồng do không
nhận hàng;
2. Rủi
ro về mất mát hoặc hư hỏng
hàng hoá không được chuyển
cho bên mua, nếu hàng hoá
không được xác định rõ ràng
bằng ký mã hiệu, chứng từ
vận tải, không được thông
báo cho bên mua hoặc không
được xác định bằng bất kỳ
cách thức nào khác.
Điều 62. Thời
điểm chuyển quyền sở hữu
hàng hoá
Trừ
trường hợp pháp luật có quy
định khác hoặc các bên có
thỏa thuận khác, quyền sở
hữu được chuyển từ bên bán
sang bên mua kể từ thời điểm
hàng hóa được chuyển giao.
MỤC 3
MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO
DỊCH HÀNG HÓA
Điều 63. Mua bán
hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa
1. Mua
bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa là hoạt động
thương mại, theo đó các bên
thỏa thuận thực hiện việc
mua bán một lượng nhất định
của một loại hàng hóa nhất
định qua Sở giao dịch hàng
hoá theo những tiêu chuẩn
của Sở giao dịch hàng hoá
với giá được thỏa thuận tại
thời điểm giao kết hợp đồng
và thời gian giao hàng được
xác định tại một thời điểm
trong tương lai.
2.
Chính phủ quy định chi tiết
về hoạt động mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa.
Điều 64. Hợp đồng
mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hoá
1. Hợp
đồng mua bán hàng hóa qua Sở
giao dịch hàng hoá bao gồm
hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng
quyền chọn.
2. Hợp
đồng kỳ hạn là thỏa thuận,
theo đó bên bán cam kết giao
và bên mua cam kết nhận hàng
hoá tại một thời điểm trong
tương lai theo hợp đồng.
3. Hợp
đồng về quyền chọn mua hoặc
quyền chọn bán là thỏa
thuận, theo đó bên mua quyền
có quyền được mua hoặc được
bán một hàng hóa xác định
với mức giá định trước (gọi
là giá giao kết) và phải trả
một khoản tiền nhất định để
mua quyền này (gọi là tiền
mua quyền). Bên mua quyền có
quyền chọn thực hiện hoặc
không thực hiện việc mua
hoặc bán hàng hóa đó.
Điều 65. Quyền và
nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng kỳ hạn
1.
Trường hợp người bán thực
hiện việc giao hàng theo hợp
đồng thì bên mua có nghĩa vụ
nhận hàng và thanh toán.
2.
Trường hợp các bên có thoả
thuận về việc bên mua có thể
thanh toán bằng tiền và
không nhận hàng thì bên mua
phải thanh toán cho bên bán
một khoản tiền bằng mức
chênh lệch giữa giá thoả
thuận trong hợp đồng và giá
thị trường do Sở giao dịch
hàng hoá công bố tại thời
điểm hợp đồng được thực
hiện.
3.
Trường hợp các bên có thoả
thuận về việc bên bán có thể
thanh toán bằng tiền và
không giao hàng thì bên bán
phải thanh toán cho bên mua
một khoản tiền bằng mức
chênh lệch giữa giá thị
trường do Sở giao dịch hàng
hoá công bố tại thời điểm
hợp đồng được thực hiện và
giá thoả thuận trong hợp
đồng.
Điều 66. Quyền và
nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng quyền chọn
1. Bên
mua quyền chọn mua hoặc
quyền chọn bán phải trả tiền
mua quyền chọn để được trở
thành bên giữ quyền chọn mua
hoặc giữ quyền chọn bán. Số
tiền phải trả cho việc mua
quyền chọn do các bên thoả
thuận.
2. Bên
giữ quyền chọn mua có quyền
mua nhưng không có nghĩa vụ
phải mua hàng hoá đã giao
kết trong hợp đồng. Trường
hợp bên giữ quyền chọn mua
quyết định thực hiện hợp
đồng thì bên bán có nghĩa vụ
phải bán hàng hoá cho bên
giữ quyền chọn mua. Trường
hợp bên bán không có hàng
hoá để giao thì phải thanh
toán cho bên giữ quyền chọn
mua một khoản tiền bằng mức
chênh lệch giữa giá thoả
thuận trong hợp đồng và giá
thị trường do Sở giao dịch
hàng hoá công bố tại thời
điểm hợp đồng được thực
hiện.
3. Bên
giữ quyền chọn bán có quyền
bán nhưng không có nghĩa vụ
phải bán hàng hoá đã giao
kết trong hợp đồng. Trường
hợp bên giữ quyền chọn bán
quyết định thực hiện hợp
đồng thì bên mua có nghĩa vụ
phải mua hàng hoá của bên
giữ quyền chọn bán. Trường
hợp bên mua không mua hàng
thì phải thanh toán cho bên
giữ quyền chọn bán một khoản
tiền bằng mức chênh lệch
giữa giá thị trường do Sở
giao dịch hàng hoá công bố
tại thời điểm hợp đồng được
thực hiện và giá thoả thuận
trong hợp đồng.
4.
Trường hợp bên giữ quyền
chọn mua hoặc giữ quyền chọn
bán quyết định không thực
hiện hợp đồng trong thời hạn
hợp đồng có hiệu lực thì hợp
đồng đương nhiên hết hiệu
lực.
Điều 67. Sở giao
dịch hàng hoá
1. Sở
giao dịch hàng hoá có các
chức năng sau đây:
a) Cung
cấp các điều kiện vật chất -
kỹ thuật cần thiết để giao
dịch mua bán hàng hoá;
b) Điều
hành các hoạt động giao
dịch;
c) Niêm
yết các mức giá cụ thể hình
thành trên thị trường giao
dịch tại từng thời điểm.
2.
Chính phủ quy định chi tiết
điều kiện thành lập Sở giao
dịch hàng hóa, quyền hạn,
trách nhiệm của Sở giao dịch
hàng hóa và việc phê chuẩn
Điều lệ hoạt động của Sở
giao dịch hàng hóa.
Điều 68. Hàng hoá
giao dịch tại Sở giao dịch
hàng hóa
Danh
mục hàng hoá giao dịch tại
Sở giao dịch hàng hóa do Bộ
trưởng Bộ Thương mại quy
định.
Điều 69. Thương
nhân môi giới mua bán hàng
hoá qua Sở Giao dịch hàng
hoá
1.
Thương nhân môi giới mua bán
hàng hoá qua Sở giao dịch
hàng hoá chỉ được phép hoạt
động tại Sở Giao dịch hàng
hoá khi đáp ứng đủ các điều
kiện theo quy định của pháp
luật. Chính phủ quy định chi
tiết điều kiện hoạt động của
thương nhân môi giới mua bán
hàng hoá qua Sở giao dịch
hàng hoá.
2.
Thương nhân môi giới mua bán
hàng hoá qua Sở giao dịch
hàng hoá chỉ được phép thực
hiện các hoạt động môi giới
mua bán hàng hoá qua Sở giao
dịch hàng hoá và không được
phép là một bên của hợp đồng
mua bán hàng hoá qua Sở giao
dịch hàng hoá.
3.
Thương nhân môi giới mua bán
hàng hoá qua Sở giao dịch
hàng hoá có nghĩa vụ đóng
tiền ký quỹ tại Sở giao dịch
hàng hoá để bảo đảm thực
hiện các nghĩa vụ phát sinh
trong quá trình hoạt động
môi giới mua bán hàng hoá.
Mức tiền ký quỹ do Sở giao
dịch hàng hoá quy định.
Điều 70. Các hành
vi bị cấm đối với thương
nhân môi giới hàng hoá qua
Sở giao dịch hàng hoá
1. Lôi
kéo khách hàng ký kết hợp
đồng bằng cách hứa bồi
thường toàn bộ hoặc một phần
thiệt hại phát sinh hoặc bảo
đảm lợi nhuận cho khách
hàng.
2. Chào
hàng hoặc môi giới mà không
có hợp đồng với khách hàng.
3. Sử
dụng giá giả tạo hoặc các
biện pháp gian lận khác khi
môi giới cho khách hàng.
4. Từ
chối hoặc tiến hành chậm trễ
một cách bất hợp lý việc môi
giới hợp đồng theo các nội
dung đã thoả thuận với khách
hàng.
5. Các
hành vi bị cấm khác quy định
tại khoản 2 Điều 71 của Luật
này.
Điều 71. Các hành
vi bị cấm trong hoạt động
mua bán hàng hoá qua Sở giao
dịch hàng hóa
1. Nhân
viên của Sở giao dịch hàng
hoá không được phép môi
giới, mua bán hàng hoá qua
Sở giao dịch hàng hoá.
2. Các
bên liên quan đến hoạt động
mua bán hàng hoá qua Sở giao
dịch hàng hoá không được
thực hiện các hành vi sau
đây:
a) Gian
lận, lừa dối về khối lượng
hàng hóa trong các hợp đồng
kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền
chọn được giao dịch hoặc có
thể được giao dịch và gian
lận, lừa dối về giá thực tế
của loại hàng hoá trong các
hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp
đồng quyền chọn;
b) Đưa
tin sai lệch về các giao
dịch, thị trường hoặc giá
hàng hoá mua bán qua Sở giao
dịch hàng hóa;
c) Dùng
các biện pháp bất hợp pháp
để gây rối loạn thị trường
hàng hóa tại Sở giao dịch
hàng hoá;
d) Các
hành vi bị cấm khác theo quy
định của pháp luật.
Điều 72. Thực
hiện biện pháp quản lý trong
trường hợp khẩn cấp
1.
Trường hợp khẩn cấp là
trường hợp xảy ra hiện tượng
rối loạn thị trường hàng hoá
làm cho giao dịch qua Sở
giao dịch hàng hóa không
phản ánh được chính xác quan
hệ cung cầu.
2.
Trong trường hợp khẩn cấp,
Bộ trưởng Bộ Thương mại có
quyền thực hiện các biện
pháp sau đây:
a) Tạm
ngừng việc giao dịch qua Sở
giao dịch hàng hoá;
b) Hạn
chế các giao dịch ở một
khung giá hoặc một số lượng
hàng hóa nhất định;
c) Thay
đổi lịch giao dịch;
d) Thay
đổi Điều lệ hoạt động của Sở
giao dịch hàng hoá;
đ) Các
biện pháp cần thiết khác
theo quy định của Chính phủ.
Điều 73. Quyền
hoạt động mua bán hàng hóa
qua Sở giao dịch hàng hóa ở
nước ngoài
Thương
nhân Việt Nam được quyền
hoạt động mua bán hàng hóa
qua Sở giao dịch hàng hóa ở
nước ngoài theo quy định của
Chính phủ.
CHƯƠNG III
CUNG ỨNG DỊCH VỤ
MỤC 1
CÁC QUY ĐỊNH CHUNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ
Điều 74. Hình
thức hợp đồng dịch vụ
1. Hợp
đồng dịch vụ được thể hiện
bằng lời nói, bằng văn bản
hoặc được xác lập bằng hành
vi cụ thể.
2. Đối
với các loại hợp đồng dịch
vụ mà pháp luật quy định
phải được lập thành văn bản
thì phải tuân theo các quy
định đó.
Điều 75. Quyền
cung ứng và sử dụng dịch vụ
của thương nhân
1. Trừ
trường hợp pháp luật hoặc
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác,
thương nhân có các quyền
cung ứng dịch vụ sau đây:
a) Cung
ứng dịch vụ cho người cư trú
tại Việt Nam sử dụng trên
lãnh thổ Việt Nam;
b) Cung
ứng dịch vụ cho người không
cư trú tại Việt Nam sử dụng
trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Cung
ứng dịch vụ cho người cư trú
tại Việt Nam sử dụng trên
lãnh thổ nước ngoài;
d) Cung
ứng dịch vụ cho người không
cư trú tại Việt Nam sử dụng
trên lãnh thổ nước ngoài.
2. Trừ
trường hợp pháp luật hoặc
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác,
thương nhân có các quyền sử
dụng dịch vụ sau đây:
a) Sử
dụng dịch vụ do người cư trú
tại Việt Nam cung ứng trên
lãnh thổ Việt Nam;
b) Sử
dụng dịch vụ do người không
cư trú tại Việt Nam cung ứng
trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Sử
dụng dịch vụ do người cư trú
tại Việt Nam cung ứng trên
lãnh thổ nước ngoài;
d) Sử
dụng dịch vụ do người không
cư trú tại Việt Nam cung ứng
trên lãnh thổ nước ngoài.
3.
Chính phủ quy định cụ thể
đối tượng người cư trú,
người không cư trú để thực
hiện các chính sách thuế,
quản lý xuất khẩu, nhập khẩu
đối với các loại hình dịch
vụ.
Điều 76. Dịch vụ
cấm kinh doanh, dịch vụ hạn
chế kinh doanh và dịch vụ
kinh doanh có điều kiện
1. Căn
cứ vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng thời kỳ và
điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, Chính phủ quy
định cụ thể danh mục dịch vụ
cấm kinh doanh, dịch vụ hạn
chế kinh doanh, dịch vụ kinh
doanh có điều kiện và điều
kiện để được kinh doanh dịch
vụ đó.
2. Đối
với dịch vụ hạn chế kinh
doanh, dịch vụ kinh doanh có
điều kiện, việc cung ứng
dịch vụ chỉ được thực hiện
khi dịch vụ và các bên tham
gia hoạt động cung ứng dịch
vụ đáp ứng đầy đủ các điều
kiện theo quy định của pháp
luật.
Điều 77.
Áp dụng các biện pháp
khẩn cấp đối với hoạt động
cung ứng hoặc sử dụng dịch
vụ
Trong
trường hợp cần thiết, để bảo
vệ an ninh quốc gia và các
lợi ích quốc gia khác phù
hợp với pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, Thủ tướng
Chính phủ quyết định áp dụng
các biện pháp khẩn cấp đối
với hoạt động cung ứng hoặc
sử dụng dịch vụ, bao gồm
việc tạm thời cấm cung ứng
hoặc sử dụng đối với một
hoặc một số loại dịch vụ
hoặc các biện pháp khẩn cấp
khác đối với một hoặc một số
thị trường cụ thể trong một
thời gian nhất định.
MỤC 2
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC
BÊN TRONG HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ
Điều 78. Nghĩa vụ
của bên cung ứng dịch vụ
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
có các nghĩa vụ sau đây:
1. Cung
ứng các dịch vụ và thực hiện
những công việc có liên quan
một cách đầy đủ, phù hợp với
thoả thuận và theo quy định
của Luật này;
2. Bảo
quản và giao lại cho khách
hàng tài liệu và phương tiện
được giao để thực hiện dịch
vụ sau khi hoàn thành công
việc;
3.
Thông báo ngay cho khách
hàng trong trường hợp thông
tin, tài liệu không đầy đủ,
phương tiện không bảo đảm để
hoàn thành việc cung ứng
dịch vụ;
4. Giữ
bí mật về thông tin mà mình
biết được trong quá trình
cung ứng dịch vụ nếu có thoả
thuận hoặc pháp luật có quy
định.
Điều 79. Nghĩa vụ
của bên cung ứng dịch vụ
theo kết quả công việc
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu tính chất của loại
dịch vụ được cung ứng yêu
cầu bên cung ứng dịch vụ
phải đạt được một kết quả
nhất định thì bên cung ứng
dịch vụ phải thực hiện việc
cung ứng dịch vụ với kết quả
phù hợp với các điều khoản
và mục đích của hợp đồng.
Trong trường hợp hợp đồng
không có quy định cụ thể về
tiêu chuẩn kết quả cần đạt
được, bên cung ứng dịch vụ
phải thực hiện việc cung ứng
dịch vụ với kết quả phù hợp
với tiêu chuẩn thông thường
của loại dịch vụ đó.
Điều 80. Nghĩa vụ
của bên cung ứng dịch vụ
theo nỗ lực và khả năng cao
nhất
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu tính chất của loại
dịch vụ được cung ứng yêu
cầu bên cung ứng dịch vụ
phải nỗ lực cao nhất để đạt
được kết quả mong muốn thì
bên cung ứng dịch vụ phải
thực hiện nghĩa vụ cung ứng
dịch vụ đó với nỗ lực và khả
năng cao nhất.
Điều 81. Hợp tác
giữa các bên cung ứng dịch
vụ
Trường
hợp theo thỏa thuận hoặc dựa
vào tình hình cụ thể, một
dịch vụ do nhiều bên cung
ứng dịch vụ cùng tiến hành
hoặc phối hợp với bên cung
ứng dịch vụ khác thì mỗi bên
cung ứng dịch vụ có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Trao
đổi, thông tin cho nhau về
tiến độ công việc và yêu cầu
của mình có liên quan đến
việc cung ứng dịch vụ, đồng
thời phải cung ứng dịch vụ
vào thời gian và theo phương
thức phù hợp để không gây
cản trở đến hoạt động của
bên cung ứng dịch vụ đó;
2. Tiến
hành bất kỳ hoạt động hợp
tác cần thiết nào với các
bên cung ứng dịch vụ khác.
Điều 82. Thời hạn
hoàn thành dịch vụ
1. Bên
cung ứng dịch vụ phải hoàn
thành dịch vụ đúng thời hạn
đã thoả thuận trong hợp
đồng.
2.
Trường hợp không có thỏa
thuận về thời hạn hoàn thành
dịch vụ thì bên cung ứng
dịch vụ phải hoàn thành dịch
vụ trong một thời hạn hợp lý
trên cơ sở tính đến tất cả
các điều kiện và hoàn cảnh
mà bên cung ứng dịch vụ biết
được vào thời điểm giao kết
hợp đồng, bao gồm bất kỳ nhu
cầu cụ thể nào của khách
hàng có liên quan đến thời
gian hoàn thành dịch vụ.
3.
Trường hợp một dịch vụ chỉ
có thể được hoàn thành khi
khách hàng hoặc bên cung ứng
dịch vụ khác đáp ứng các
điều kiện nhất định thì bên
cung ứng dịch vụ đó không có
nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ
của mình cho đến khi các
điều kiện đó được đáp ứng.
Điều 83. Yêu cầu
của khách hàng liên quan đến
những thay đổi trong quá
trình cung ứng dịch vụ
1.
Trong quá trình cung ứng
dịch vụ, bên cung ứng dịch
vụ phải tuân thủ những yêu
cầu hợp lý của khách hàng
liên quan đến những thay đổi
trong quá trình cung ứng
dịch vụ.
2. Trừ trường hợp có thoả
thuận khác, khách hàng phải
chịu những chi phí hợp lý
cho việc thực hiện những yêu
cầu thay đổi của mình.
Điều 84. Tiếp tục
cung ứng dịch vụ sau khi hết
thời hạn hoàn thành việc
cung ứng dịch vụ
Sau khi hết thời hạn hoàn
thành việc cung ứng dịch vụ
mà dịch vụ vẫn chưa hoàn
thành, nếu khách hàng không
phản đối thì bên cung ứng
dịch vụ phải tiếp tục cung
ứng theo nội dung đã thoả
thuận và phải bồi thường
thiệt hại, nếu có.
Điều 85. Nghĩa vụ
của khách hàng
Trừ trường hợp có thoả thuận
khác, khách hàng có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Thanh toán tiền cung ứng
dịch vụ như đã thoả thuận
trong hợp đồng;
2. Cung cấp kịp thời các kế
hoạch, chỉ dẫn và những chi
tiết khác để việc cung ứng
dịch vụ được thực hiện không
bị trì hoãn hay gián đoạn;
3. Hợp tác trong tất cả
những vấn đề cần thiết khác
để bên cung ứng có thể cung
ứng dịch vụ một cách thích
hợp;
4. Trường hợp một dịch vụ do
nhiều bên cung ứng dịch vụ
cùng tiến hành hoặc phối hợp
với bên cung ứng dịch vụ
khác, khách hàng có nghĩa vụ
điều phối hoạt động của các
bên cung ứng dịch vụ để
không gây cản trở đến công
việc của bất kỳ bên cung ứng
dịch vụ nào.
Điều 86. Giá dịch
vụ
Trường hợp không có thoả
thuận về giá dịch vụ, không
có thoả thuận về phương pháp
xác định giá dịch vụ và cũng
không có bất kỳ chỉ dẫn nào
khác về giá dịch vụ thì giá
dịch vụ được xác định theo
giá của loại dịch vụ đó
trong các điều kiện tương tự
về phương thức cung ứng,
thời điểm cung ứng, thị
trường địa lý, phương thức
thanh toán và các điều kiện
khác có ảnh hưởng đến giá
dịch vụ.
Điều 87. Thời hạn
thanh toán
Trường hợp không có thỏa
thuận và giữa các bên không
có bất kỳ thói quen nào về
việc thanh toán thì thời hạn
thanh toán là thời điểm việc
cung ứng dịch vụ được hoàn
thành.
CHƯƠNG IV
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
MỤC 1
KHUYẾN MẠI
Điều 88. Khuyến
mại
1. Khuyến mại là hoạt động
xúc tiến thương mại của
thương nhân nhằm xúc tiến
việc mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ bằng cách dành
cho khách hàng những lợi ích
nhất định.
2.
Thương nhân thực hiện khuyến
mại là thương nhân thuộc một
trong các trường hợp sau
đây:
a)
Thương nhân trực tiếp khuyến
mại hàng hóa, dịch vụ mà
mình kinh doanh;
b)
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ khuyến mại thực hiện
khuyến mại cho hàng hóa,
dịch vụ của thương nhân khác
theo thỏa thuận với thương
nhân đó.
Điều 89. Kinh
doanh dịch vụ khuyến mại
Kinh
doanh dịch vụ khuyến mại là
hoạt động thương mại, theo
đó một thương nhân thực hiện
khuyến mại cho hàng hóa,
dịch vụ của thương nhân khác
trên cơ sở hợp đồng.
Điều 90. Hợp đồng
dịch vụ khuyến mại
Hợp
đồng dịch vụ khuyến mại phải
được lập thành văn bản hoặc
bằng hình thức khác có giá
trị pháp lý tương đương.
Điều 91. Quyền
khuyến mại của thương nhân
1.
Thương nhân Việt Nam, Chi
nhánh của thương nhân Việt
Nam, Chi nhánh của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam
có quyền tự tổ chức khuyến
mại hoặc thuê thương nhân
kinh doanh dịch vụ khuyến
mại thực hiện việc khuyến
mại cho mình.
2. Văn
phòng đại diện của thương
nhân không được khuyến mại
hoặc thuê thương nhân khác
thực hiện khuyến mại tại
Việt Nam cho thương nhân mà
mình đại diện.
Điều 92. Các hình
thức khuyến mại
1. Đưa
hàng hoá mẫu, cung ứng dịch
vụ mẫu để khách hàng dùng
thử không phải trả tiền.
2. Tặng
hàng hoá cho khách hàng,
cung ứng dịch vụ không thu
tiền.
3. Bán
hàng, cung ứng dịch vụ với
giá thấp hơn giá bán hàng,
giá cung ứng dịch vụ trước
đó, được áp dụng trong thời
gian khuyến mại đã đăng ký
hoặc thông báo. Trường hợp
hàng hóa, dịch vụ thuộc diện
Nhà nước quản lý giá thì
việc khuyến mại theo hình
thức này được thực hiện theo
quy định của Chính phủ.
4. Bán
hàng, cung ứng dịch vụ có
kèm theo phiếu mua hàng,
phiếu sử dụng dịch vụ để
khách hàng được hưởng một
hay một số lợi ích nhất
định.
5. Bán
hàng, cung ứng dịch vụ có
kèm phiếu dự thi cho khách
hàng để chọn người trao
thưởng theo thể lệ và giải
thưởng đã công bố.
6. Bán
hàng, cung ứng dịch vụ kèm
theo việc tham dự các chương
trình mang tính may rủi mà
việc tham gia chương trình
gắn liền với việc mua hàng
hóa, dịch vụ và việc trúng
thưởng dựa trên sự may mắn
của người tham gia theo thể
lệ và giải thưởng đã công
bố.
7. Tổ
chức chương trình khách hàng
thường xuyên, theo đó việc
tặng thưởng cho khách hàng
căn cứ trên số lượng hoặc
trị giá mua hàng hóa, dịch
vụ mà khách hàng thực hiện
được thể hiện dưới hình thức
thẻ khách hàng, phiếu ghi
nhận sự mua hàng hoá, dịch
vụ hoặc các hình thức khác.
8. Tổ
chức cho khách hàng tham gia
các chương trình văn hóa,
nghệ thuật, giải trí và các
sự kiện khác vì mục đích
khuyến mại.
9. Các
hình thức khuyến mại khác
nếu được cơ quan quản lý nhà
nước về thương mại chấp
thuận.
Điều 93. Hàng
hóa, dịch vụ được khuyến mại
1. Hàng
hóa, dịch vụ được khuyến mại
là hàng hóa, dịch vụ được
thương nhân sử dụng các hình
thức khuyến mại để xúc tiến
việc bán, cung ứng hàng hóa,
dịch vụ đó.
2. Hàng
hóa, dịch vụ được khuyến mại
phải là hàng hóa, dịch vụ
được kinh doanh hợp pháp.
Điều 94. Hàng
hoá, dịch vụ dùng để khuyến
mại, mức giảm giá khuyến mại
1. Hàng
hoá, dịch vụ dùng để khuyến
mại là hàng hoá, dịch vụ
được thương nhân dùng để
tặng, thưởng, cung ứng không
thu tiền cho khách hàng.
2. Hàng
hoá, dịch vụ được thương
nhân dùng để khuyến mại có
thể là hàng hoá, dịch vụ mà
thương nhân đó đang kinh
doanh hoặc hàng hoá, dịch vụ
khác.
3. Hàng
hóa, dịch vụ được dùng để
khuyến mại phải là hàng hóa,
dịch vụ được kinh doanh hợp
pháp.
4.
Chính phủ quy định cụ thể
hạn mức tối đa về giá trị
của hàng hóa, dịch vụ dùng
để khuyến mại, mức giảm giá
tối đa đối với hàng hóa,
dịch vụ được khuyến mại mà
thương nhân được thực hiện
trong hoạt động khuyến mại.
Điều 95. Quyền
của thương nhân thực hiện
khuyến mại
1. Lựa
chọn hình thức, thời gian,
địa điểm khuyến mại, hàng
hóa, dịch vụ dùng để khuyến
mại.
2. Quy
định các lợi ích cụ thể mà
khách hàng được hưởng phù
hợp với khoản 4 Điều 94 của
Luật này.
3. Thuê
thương nhân kinh doanh dịch
vụ khuyến mại thực hiện việc
khuyến mại cho mình.
4. Tổ
chức thực hiện các hình thức
khuyến mại quy định tại Điều
92 của Luật này.
Điều 96. Nghĩa vụ
của thương nhân thực hiện
khuyến mại
1. Thực
hiện đầy đủ các trình tự,
thủ tục theo quy định của
pháp luật để thực hiện các
hình thức khuyến mại.
2.
Thông báo công khai các nội
dung thông tin về hoạt động
khuyến mại cho khách hàng
theo quy định tại Điều 97
của Luật này.
3. Thực
hiện đúng chương trình
khuyến mại đã thông báo và
các cam kết với khách hàng.
4. Đối
với một số hình thức khuyến
mại quy định tại khoản 6
Điều 92 của Luật này, thương
nhân phải trích 50% giá trị
giải thưởng đã công bố vào
ngân sách nhà nước trong
trường hợp không có người
trúng thưởng.
Bộ
trưởng Bộ Thương mại quy
định các hình thức khuyến
mại cụ thể thuộc các chương
trình mang tính may rủi phải
thực hiện quy định này.
5. Tuân
thủ các thỏa thuận trong hợp
đồng dịch vụ khuyến mại nếu
thương nhân thực hiện khuyến
mại là thương nhân kinh
doanh dịch vụ khuyến mại.
Điều 97. Thông
tin phải thông báo công khai
1. Đối
với tất cả hình thức khuyến
mại quy định tại Điều 92 của
Luật này, thương nhân thực
hiện khuyến mại phải thông
báo công khai các thông tin
sau đây:
a) Tên
của hoạt động khuyến mại;
b) Giá
bán hàng hóa, giá cung ứng
dịch vụ khuyến mại và các
chi phí có liên quan để giao
hàng hóa, dịch vụ được
khuyến mại cho khách hàng;
c) Tên,
địa chỉ, số điện thoại của
thương nhân thực hiện khuyến
mại;
d) Thời
gian khuyến mại, ngày bắt
đầu, ngày kết thúc và địa
bàn hoạt động khuyến mại;
đ)
Trường hợp lợi ích của việc
tham gia khuyến mại gắn với
các điều kiện cụ thể thì
trong thông báo phải nêu rõ
hoạt động khuyến mại đó có
kèm theo điều kiện và nội
dung cụ thể của các điều
kiện.
2.
Ngoài các thông tin quy định
tại khoản 1 Điều này, thương
nhân còn phải thông báo công
khai các thông tin liên quan
đến hoạt động khuyến mại sau
đây:
a) Giá
bán hàng hóa, giá cung ứng
dịch vụ được tặng cho khách
hàng đối với hình thức
khuyến mại quy định tại
khoản 2 Điều 92 của Luật
này;
b) Trị
giá tuyệt đối hoặc phần trăm
thấp hơn giá bán hàng hóa,
giá cung ứng dịch vụ bình
thường trước thời gian
khuyến mại đối với hình thức
khuyến mại quy định tại
khoản 3 Điều 92 của Luật
này;
c) Giá
trị bằng tiền hoặc lợi ích
cụ thể mà khách hàng được
hưởng từ phiếu mua hàng,
phiếu sử dụng dịch vụ; địa
điểm bán hàng, cung ứng dịch
vụ và các loại hàng hóa,
dịch vụ mà khách hàng có thể
nhận được từ phiếu mua hàng,
phiếu sử dụng dịch vụ đối
với hình thức khuyến mại quy
định tại khoản 4 Điều 92 của
Luật này;
d) Loại
giải thưởng và giá trị của
từng loại giải thưởng; thể
lệ tham gia các chương trình
khuyến mại, cách thức lựa
chọn người trúng thưởng đối
với các hình thức khuyến mại
quy định tại khoản 5, khoản
6 Điều 92 của Luật này;
đ) Các
chi phí mà khách hàng phải
tự chịu đối với các hình
thức khuyến mại quy định tại
khoản 7, khoản 8 Điều 92 của
Luật này.
Điều 98. Cách
thức thông báo
1. Việc
thông báo khuyến mại hàng
hoá theo quy định tại Điều
97 của Luật này được thực
hiện bằng một trong các cách
thức sau đây:
a) Tại
địa điểm bán hàng hóa và nơi
để hàng hoá bày bán;
b) Trên
hàng hoá hoặc bao bì hàng
hóa;
c) Dưới
bất kỳ cách thức nào khác
nhưng phải được đính kèm với
hàng hóa khi hàng hóa được
bán.
2. Việc
thông báo khuyến mại dịch vụ
theo quy định tại Điều 97
của Luật này phải được thực
hiện dưới một trong các cách
thức sau đây:
a) Tại
địa điểm cung ứng dịch vụ;
b) Cách
thức khác nhưng phải được
cung cấp kèm với dịch vụ khi
dịch vụ đó được cung ứng.
Điều 99. Bảo đảm
bí mật thông tin về chương
trình, nội dung khuyến mại
Trường
hợp chương trình khuyến mại
phải được sự chấp thuận của
cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì cơ quan đó phải
giữ bí mật chương trình, nội
dung khuyến mại do thương
nhân cung cấp cho đến khi
chương trình được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền chấp
thuận.
Điều 100. Các
hành vi bị cấm trong hoạt
động khuyến mại
1.
Khuyến mại cho hàng hoá,
dịch vụ cấm kinh doanh; hàng
hóa, dịch vụ hạn chế kinh
doanh; hàng hoá chưa được
phép lưu thông, dịch vụ chưa
được phép cung ứng.
2. Sử
dụng hàng hóa, dịch vụ dùng
để khuyến mại là hàng hóa,
dịch vụ cấm kinh doanh; hàng
hóa, dịch vụ hạn chế kinh
doanh; hàng hóa chưa được
phép lưu thông, dịch vụ chưa
được phép cung ứng.
3.
Khuyến mại hoặc sử dụng
rượu, bia để khuyến mại cho
người dưới 18 tuổi.
4.
Khuyến mại hoặc sử dụng
thuốc lá, rượu có độ cồn từ
30 độ trở lên để khuyến mại
dưới mọi hình thức.
5.
Khuyến mại thiếu trung thực
hoặc gây hiểu lầm về hàng
hoá, dịch vụ để lừa dối
khách hàng.
6.
Khuyến mại để tiêu thụ hàng
hoá kém chất lượng, làm
phương hại đến môi trường,
sức khoẻ con người và lợi
ích công cộng khác.
7.
Khuyến mại tại trường học,
bệnh viện, trụ sở của cơ
quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã
hội, đơn vị vũ trang nhân
dân.
8. Hứa
tặng, thưởng nhưng không
thực hiện hoặc thực hiện
không đúng.
9.
Khuyến mại nhằm cạnh tranh
không lành mạnh.
10.
Thực hiện khuyến mại mà giá
trị hàng hóa, dịch vụ dùng
để khuyến mại vượt quá hạn
mức tối đa hoặc giảm giá
hàng hóa, dịch vụ được
khuyến mại quá mức tối đa
theo quy định tại khoản 4
Điều 94 của Luật này.
Điều 101. Đăng ký
hoạt động khuyến mại, thông
báo kết quả khuyến mại với
cơ quan quản lý nhà nước về
thương mại
1.
Trước khi thực hiện hoạt
động khuyến mại, thương nhân
phải đăng ký và sau khi kết
thúc hoạt động khuyến mại,
thương nhân phải thông báo
kết quả với cơ quan quản lý
nhà nước về thương mại.
2.
Chính phủ quy định cụ thể
việc đăng ký hoạt động
khuyến mại và thông báo kết
quả hoạt động khuyến mại của
các thương nhân với cơ quan
quản lý nhà nước về thương
mại.
MỤC 2
QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Điều 102. Quảng
cáo thương mại
Quảng
cáo thương mại là hoạt động
xúc tiến thương mại của
thương nhân để giới thiệu
với khách hàng về hoạt động
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
của mình.
Điều 103. Quyền
quảng cáo thương mại
1.
Thương nhân Việt Nam, Chi
nhánh của thương nhân Việt
Nam, Chi nhánh của thương
nhân nước ngoài được phép
hoạt động thương mại tại
Việt Nam có quyền quảng cáo
về hoạt động kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ của mình hoặc
thuê thương nhân kinh doanh
dịch vụ quảng cáo thực hiện
việc quảng cáo thương mại
cho mình.
2. Văn
phòng đại diện của thương
nhân không được trực tiếp
thực hiện hoạt động quảng
cáo thương mại. Trong trường
hợp được thương nhân ủy
quyền, Văn phòng đại diện có
quyền ký hợp đồng với thương
nhân kinh doanh dịch vụ
quảng cáo thương mại để thực
hiện quảng cáo cho thương
nhân mà mình đại diện.
3.
Thương nhân nước ngoài muốn
quảng cáo thương mại về hoạt
động kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ của mình tại Việt
Nam phải thuê thương nhân
kinh doanh dịch vụ quảng cáo
thương mại Việt Nam thực
hiện.
Điều 104. Kinh
doanh dịch vụ quảng cáo
thương mại
Kinh
doanh dịch vụ quảng cáo
thương mại là hoạt động
thương mại của thương nhân
để thực hiện việc quảng cáo
thương mại cho thương nhân
khác.
Điều 105. Sản
phẩm quảng cáo thương mại
Sản
phẩm quảng cáo thương mại
gồm những thông tin bằng
hình ảnh, hành động, âm
thanh, tiếng nói, chữ viết,
biểu tượng, màu sắc, ánh
sáng chứa đựng nội dung
quảng cáo thương mại.
Điều 106. Phương
tiện quảng cáo thương mại
1.
Phương tiện quảng cáo thương
mại là công cụ được sử dụng
để giới thiệu các sản phẩm
quảng cáo thương mại.
2.
Phương tiện quảng cáo thương
mại bao gồm:
a) Các
phương tiện thông tin đại
chúng;
b) Các
phương tiện truyền tin;
c) Các
loại xuất bản phẩm;
d) Các
loại bảng, biển, băng,
pa-nô, áp-phích, vật thể cố
định, các phương tiện giao
thông hoặc các vật thể di
động khác;
đ) Các
phương tiện quảng cáo thương
mại khác.
Điều 107. Sử dụng
phương tiện quảng cáo thương
mại
1. Việc
sử dụng phương tiện quảng
cáo thương mại quy định tại
Điều 106 của Luật này phải
tuân thủ các quy định của cơ
quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền.
2. Việc
sử dụng phương tiện quảng
cáo thương mại phải bảo đảm
các yêu cầu sau đây:
a) Tuân
thủ các quy định của pháp
luật về báo chí, xuất bản,
thông tin, chương trình hoạt
động văn hoá, thể thao, hội
chợ, triển lãm;
b) Tuân
thủ quy định về địa điểm
quảng cáo, không gây ảnh
hưởng xấu đến cảnh quan, môi
trường, trật tự an toàn giao
thông, an toàn xã hội;
c) Đúng
mức độ, thời lượng, thời
điểm quy định đối với từng
loại phương tiện thông tin
đại chúng.
Điều 108. Bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ đối với
sản phẩm quảng cáo thương
mại
Thương
nhân có quyền đăng ký bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ đối với
sản phẩm quảng cáo thương
mại theo quy định của pháp
luật.
Điều 109. Các
quảng cáo thương mại bị cấm
1.
Quảng cáo làm tiết lộ bí mật
nhà nước, phương hại đến độc
lập, chủ quyền, an ninh quốc
gia và trật tự, an toàn xã
hội.
2.
Quảng cáo có sử dụng sản
phẩm quảng cáo, phương tiện
quảng cáo trái với truyền
thống lịch sử, văn hoá, đạo
đức, thuần phong mỹ tục Việt
Nam và trái với quy định của
pháp luật.
3.
Quảng cáo hàng hoá, dịch vụ
mà Nhà nước cấm kinh doanh,
hạn chế kinh doanh hoặc cấm
quảng cáo.
4.
Quảng cáo thuốc lá, rượu có
độ cồn từ 30 độ trở lên và
các sản phẩm, hàng hoá chưa
được phép lưu thông, dịch vụ
chưa được phép cung ứng trên
thị trường Việt Nam tại thời
điểm quảng cáo.
5. Lợi
dụng quảng cáo thương mại
gây thiệt hại đến lợi ích
của Nhà nước, tổ chức, cá
nhân.
6.
Quảng cáo bằng việc sử dụng
phương pháp so sánh trực
tiếp hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
của mình với hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ cùng loại của thương
nhân khác.
7.
Quảng cáo sai sự thật về một
trong các nội dung số lượng,
chất lượng, giá, công dụng,
kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa,
chủng loại, bao bì, phương
thức phục vụ, thời hạn bảo
hành của hàng hoá, dịch vụ.
8.
Quảng cáo cho hoạt động kinh
doanh của mình bằng cách sử
dụng sản phẩm quảng cáo vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ;
sử dụng hình ảnh của tổ
chức, cá nhân khác để quảng
cáo khi chưa được tổ chức,
cá nhân đó đồng ý.
9.
Quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh theo quy
định của pháp luật.
Điều 110. Hợp
đồng dịch vụ quảng cáo
thương mại
Hợp
đồng dịch vụ quảng cáo
thương mại phải được lập
thành văn bản hoặc bằng hình
thức khác có giá trị pháp lý
tương đương.
Điều 111. Quyền
của bên thuê quảng cáo
thương mại
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên thuê quảng cáo
thương mại có các quyền sau
đây:
1. Lựa
chọn người phát hành quảng
cáo thương mại, hình thức,
nội dung, phương tiện, phạm
vi và thời gian quảng cáo
thương mại;
2. Kiểm
tra, giám sát việc thực hiện
hợp đồng dịch vụ quảng cáo
thương mại.
Điều 112. Nghĩa
vụ của bên thuê quảng cáo
thương mại
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên thuê quảng cáo
thương mại có các nghĩa vụ
sau đây:
1. Cung
cấp cho bên cung ứng dịch vụ
quảng cáo thương mại thông
tin trung thực, chính xác về
hoạt động kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ thương mại và
chịu trách nhiệm về các
thông tin này;
2. Trả
thù lao dịch vụ quảng cáo
thương mại và các chi phí
hợp lý khác.
Điều 113. Quyền
của bên cung ứng dịch vụ
quảng cáo thương mại
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
quảng cáo thương mại có các
quyền sau đây:
1. Yêu
cầu bên thuê quảng cáo
thương mại cung cấp thông
tin quảng cáo trung thực,
chính xác và theo đúng thoả
thuận trong hợp đồng;
2. Nhận
thù lao dịch vụ quảng cáo
thương mại và các chi phí
hợp lý khác.
Điều 114. Nghĩa
vụ của bên cung ứng dịch vụ
quảng cáo thương mại
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
quảng cáo thương mại có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Thực
hiện sự lựa chọn của bên
thuê quảng cáo về người phát
hành quảng cáo thương mại,
hình thức, nội dung, phương
tiện, phạm vi và thời gian
quảng cáo thương mại;
2. Tổ
chức quảng cáo trung thực,
chính xác về hoạt động kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ
thương mại theo thông tin mà
bên thuê quảng cáo đã cung
cấp;
3. Thực
hiện các nghĩa vụ khác đã
thoả thuận trong hợp đồng
dịch vụ quảng cáo thương
mại.
Điều 115. Người
phát hành quảng cáo thương
mại
Người
phát hành quảng cáo thương
mại là người trực tiếp phát
hành sản phẩm quảng cáo
thương mại.
Điều 116. Nghĩa
vụ của người phát hành quảng
cáo thương mại
Người
phát hành quảng cáo thương
mại có các nghĩa vụ sau đây:
1. Tuân
thủ các quy định về sử dụng
phương tiện quảng cáo thương
mại quy định tại Điều 107
của Luật này;
2. Thực
hiện hợp đồng phát hành
quảng cáo đã giao kết với
bên thuê phát hành quảng
cáo;
3. Thực
hiện các nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
MỤC 3
TRƯNG BÀY, GIỚI THIỆU HÀNG
HÓA, DỊCH VỤ
Điều 117. Trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ
Trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ là hoạt động xúc
tiến thương mại của thương
nhân dùng hàng hoá, dịch vụ
và tài liệu về hàng hoá,
dịch vụ để giới thiệu với
khách hàng về hàng hoá, dịch
vụ đó.
Điều 118. Quyền
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ
1.
Thương nhân Việt Nam, Chi
nhánh của thương nhân Việt
Nam, Chi nhánh của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam
có quyền trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ; lựa
chọn các hình thức trưng
bày, giới thiệu phù hợp; tự
mình tổ chức hoặc thuê
thương nhân kinh doanh dịch
vụ trưng bày, giới thiệu
hàng hoá, dịch vụ để trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ của mình.
2. Văn
phòng đại diện của thương
nhân không được trực tiếp
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ của thương nhân
do mình đại diện, trừ việc
trưng bày, giới thiệu tại
trụ sở của Văn phòng đại
diện đó. Trong trường hợp
được thương nhân ủy quyền,
Văn phòng đại diện có quyền
ký hợp đồng với thương nhân
kinh doanh dịch vụ trưng
bày, giới thiệu hàng hóa,
dịch vụ để thực hiện trưng
bày, giới thiệu hàng hóa,
dịch vụ cho thương nhân mà
mình đại diện.
3.
Thương nhân nước ngoài chưa
được phép hoạt động thương
mại tại Việt nam muốn trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ của mình tại Việt
Nam phải thuê thương nhân
kinh doanh dịch vụ trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ Việt Nam thực hiện.
Điều 119. Kinh
doanh dịch vụ trưng bày,
giới thiệu hàng hoá, dịch vụ
Kinh
doanh dịch vụ trưng bày,
giới thiệu hàng hoá, dịch vụ
là hoạt động thương mại,
theo đó một thương nhân thực
hiện cung ứng dịch vụ trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ cho thương nhân
khác.
Điều 120. Các
hình thức trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ
1. Mở
phòng trưng bày, giới thiệu
hàng hoá, dịch vụ.
2.
Trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ tại các trung
tâm thương mại hoặc trong
các hoạt động giải trí, thể
thao, văn hoá, nghệ thuật.
3. Tổ
chức hội nghị, hội thảo có
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ.
4.
Trưng bày, giới thiệu hàng
hóa, dịch vụ trên Internet
và các hình thức khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 121. Điều
kiện đối với hàng hoá, dịch
vụ trưng bày, giới thiệu
1. Hàng
hoá, dịch vụ trưng bày, giới
thiệu phải là những hàng
hoá, dịch vụ kinh doanh hợp
pháp trên thị trường.
2. Hàng
hoá, dịch vụ trưng bày, giới
thiệu phải tuân thủ các quy
định của pháp luật về chất
lượng hàng hóa và ghi nhãn
hàng hoá.
Điều 122. Điều
kiện đối với hàng hoá nhập
khẩu vào Việt Nam để trưng
bày, giới thiệu
Hàng
hoá nhập khẩu vào Việt Nam
để trưng bày, giới thiệu tại
Việt Nam, ngoài việc đáp ứng
các điều kiện quy định tại
Điều 121 của Luật này còn
phải đáp ứng các điều kiện
sau đây:
1. Là
hàng hoá được phép nhập khẩu
vào Việt Nam;
2. Hàng
hoá tạm nhập khẩu để trưng
bày, giới thiệu phải tái
xuất khẩu sau khi kết thúc
việc trưng bày, giới thiệu
nhưng không quá sáu tháng,
kể từ ngày tạm nhập khẩu;
nếu quá thời hạn trên thì
phải làm thủ tục gia hạn tại
hải quan nơi tạm nhập khẩu;
3. Hàng
hóa tạm nhập khẩu để trưng
bày, giới thiệu nếu tiêu thụ
tại Việt Nam thì phải tuân
thủ các quy định của pháp
luật Việt Nam đối với hàng
hóa nhập khẩu.
Điều 123. Các
trường hợp cấm trưng bày,
giới thiệu hàng hoá, dịch vụ
1. Tổ
chức trưng bày, giới thiệu
hàng hoá, dịch vụ hoặc sử
dụng hình thức, phương tiện
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ làm phương hại
đến an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, cảnh
quan, môi trường, sức khoẻ
con người.
2.
Trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ hoặc sử dụng
hình thức, phương tiện trưng
bày, giới thiệu trái với
truyền thống lịch sử, văn
hoá, đạo đức, thuần phong mỹ
tục Việt Nam.
3.
Trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ làm lộ bí mật
nhà nước.
4.
Trưng bày, giới thiệu hàng
hoá của thương nhân khác để
so sánh với hàng hoá của
mình, trừ trường hợp hàng
hoá đem so sánh là hàng giả,
hàng vi phạm quyền sở hữu
trí tuệ theo quy định của
pháp luật.
5.
Trưng bày, giới thiệu mẫu
hàng hoá không đúng với hàng
hoá đang kinh doanh về chất
lượng, giá, công dụng, kiểu
dáng, chủng loại, bao bì,
thời hạn bảo hành và các chỉ
tiêu chất lượng khác nhằm
lừa dối khách hàng.
Điều 124. Hợp
đồng dịch vụ trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ
Hợp
đồng dịch vụ trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ phải
được lập thành văn bản hoặc
bằng hình thức khác có giá
trị pháp lý tương đương.
Điều 125. Quyền
của bên thuê dịch vụ trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên thuê dịch vụ trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ có các quyền sau
đây:
1. Yêu
cầu bên cung ứng dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ thực hiện thoả
thuận trong hợp đồng;
2. Kiểm
tra, giám sát việc thực hiện
hợp đồng trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ.
Điều 126. Nghĩa
vụ của bên thuê dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên thuê dịch vụ trưng
bày, giới thiệu hàng hoá,
dịch vụ có các nghĩa vụ sau
đây:
1. Cung
cấp đầy đủ hàng hoá, dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hoặc
phương tiện cho bên cung ứng
dịch vụ theo thoả thuận
trong hợp đồng;
2. Cung
cấp thông tin về hàng hoá,
dịch vụ trưng bày, giới
thiệu và chịu trách nhiệm về
các thông tin này;
3. Trả
thù lao dịch vụ và các chi
phí hợp lý khác.
Điều 127. Quyền
của bên cung ứng dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ có các quyền
sau đây:
1. Yêu
cầu bên thuê dịch vụ cung
cấp hàng hoá, dịch vụ trưng
bày, giới thiệu theo thời
hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng;
2. Yêu
cầu bên thuê dịch vụ cung
cấp thông tin về hàng hoá,
dịch vụ trưng bày, giới
thiệu và các phương tiện cần
thiết khác theo thoả thuận
trong hợp đồng;
3. Nhận
thù lao dịch vụ và các chi
phí hợp lý khác.
Điều 128. Nghĩa
vụ của bên cung ứng dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ có các nghĩa vụ
sau đây:
1. Thực
hiện việc trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ theo
thoả thuận trong hợp đồng;
2. Bảo
quản hàng hoá trưng bày,
giới thiệu, tài liệu, phương
tiện được giao trong thời
gian thực hiện hợp đồng; khi
kết thúc việc trưng bày,
giới thiệu hàng hoá, dịch
vụ, phải giao lại đầy đủ
hàng hoá, tài liệu, phương
tiện trưng bày, giới thiệu
cho bên thuê dịch vụ;
3. Thực
hiện việc trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ theo
những nội dung đã được thoả
thuận với bên thuê dịch vụ
trưng bày, giới thiệu hàng
hoá, dịch vụ.
MỤC 4
HỘI TRỢ, TRIỂN LÃM THƯƠNG
MẠI
Điều 129. Hội
chợ, triển lãm thương mại
Hội
chợ, triển lãm thương mại là
hoạt động xúc tiến thương
mại được thực hiện tập trung
trong một thời gian và tại
một địa điểm nhất định để
thương nhân trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm
mục đích thúc đẩy, tìm kiếm
cơ hội giao kết hợp đồng mua
bán hàng hoá, hợp đồng dịch
vụ.
Điều 130. Kinh
doanh dịch vụ hội chợ, triển
lãm thương mại
1. Kinh
doanh dịch vụ hội chợ, triển
lãm thương mại là hoạt động
thương mại, theo đó thương
nhân kinh doanh dịch vụ này
cung ứng dịch vụ tổ chức
hoặc tham gia hội chợ, triển
lãm thương mại cho thương
nhân khác để nhận thù lao
dịch vụ tổ chức hội chợ,
triển lãm thương mại.
2. Hợp
đồng dịch vụ tổ chức, tham
gia hội chợ, triển lãm
thương mại phải được lập
thành văn bản hoặc bằng hình
thức khác có giá trị pháp lý
tương đương.
Điều 131. Quyền
tổ chức, tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại
1.
Thương nhân Việt Nam, Chi
nhánh của thương nhân Việt
Nam, Chi nhánh của thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam
có quyền trực tiếp tổ chức,
tham gia hội chợ, triển lãm
thương mại về hàng hóa, dịch
vụ mà mình kinh doanh hoặc
thuê thương nhân kinh doanh
dịch vụ hội chợ, triển lãm
thương mại thực hiện.
2. Văn
phòng đại diện của thương
nhân không được trực tiếp tổ
chức, tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại. Trong
trường hợp được thương nhân
ủy quyền, Văn phòng đại diện
có quyền ký hợp đồng với
thương nhân kinh doanh dịch
vụ hội chợ, triển lãm thương
mại để tổ chức, tham gia hội
chợ, triển lãm thương mại
cho thương nhân mà mình đại
diện.
3.
Thương nhân nước ngoài có
quyền trực tiếp tham gia
hoặc thuê thương nhân kinh
doanh dịch vụ hội chợ, triển
lãm thương mại Việt Nam thay
mặt mình tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại tại
Việt Nam. Trong trường hợp
muốn tổ chức hội chợ, triển
lãm thương mại tại Việt Nam
thì thương nhân nước ngoài
phải thuê thương nhân kinh
doanh dịch vụ hội chợ, triển
lãm thương mại Việt Nam thực
hiện.
Điều 132. Tổ chức
hội chợ, triển lãm thương
mại tại Việt Nam
1. Hội
chợ, triển lãm thương mại tổ
chức tại Việt Nam phải được
đăng ký và phải được xác
nhận bằng văn bản của cơ
quan quản lý nhà nước về
thương mại tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương nơi tổ
chức hội chợ, triển lãm
thương mại.
2.
Chính phủ quy định cụ thể
trình tự, thủ tục, nội dung
đăng ký và xác nhận việc tổ
chức hội chợ, triển lãm
thương mại tại Việt Nam quy
định tại khoản 1 Điều này.
Điều 133. Tổ
chức, tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại ở nước
ngoài
1.
Thương nhân không kinh doanh
dịch vụ hội chợ, triển lãm
thương mại khi trực tiếp tổ
chức hoặc tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại ở nước
ngoài về hàng hoá, dịch vụ
mà mình kinh doanh phải tuân
theo các quy định về xuất
khẩu hàng hoá.
2.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ hội chợ, triển lãm thương
mại khi tổ chức cho thương
nhân khác tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại phải
đăng ký với Bộ Thương mại.
3.
Thương nhân không đăng ký
kinh doanh dịch vụ hội chợ,
triển lãm thương mại không
được tổ chức cho thương nhân
khác tham gia hội chợ, triển
lãm thương mại ở nước ngoài.
4.
Chính phủ quy định cụ thể
trình tự, thủ tục, nội dung
đăng ký tổ chức, tham gia
hội chợ, triển lãm thương
mại ở nước ngoài quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này.
Điều 134. Hàng
hoá, dịch vụ trưng bày, giới
thiệu tại hội chợ, triển lãm
thương mại tại Việt Nam
1. Hàng
hoá, dịch vụ không được phép
tham gia hội chợ, triển lãm
thương mại bao gồm:
a) Hàng
hóa, dịch vụ thuộc diện cấm
kinh doanh, hạn chế kinh
doanh, chưa được phép lưu
thông theo quy định của pháp
luật;
b) Hàng
hóa, dịch vụ do thương nhân
ở nước ngoài cung ứng thuộc
diện cấm nhập khẩu theo quy
định của pháp luật;
c) Hàng
giả, hàng vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ, trừ trường hợp
trưng bày, giới thiệu để so
sánh với hàng thật.
2.
Ngoài việc tuân thủ các quy
định về hội chợ, triển lãm
thương mại của Luật này,
hàng hóa, dịch vụ thuộc diện
quản lý chuyên ngành phải
tuân thủ các quy định về
quản lý chuyên ngành đối với
hàng hoá, dịch vụ đó.
3. Hàng
hóa tạm nhập khẩu để tham
gia hội chợ, triển lãm
thương mại tại Việt Nam phải
được tái xuất khẩu trong
thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày kết thúc hội chợ, triển
lãm thương mại.
4. Việc
tạm nhập, tái xuất hàng hóa
tham gia hội chợ, triển lãm
thương mại tại Việt Nam phải
tuân theo các quy định của
pháp luật về hải quan và các
quy định khác của pháp luật
có liên quan.
Điều 135. Hàng
hóa, dịch vụ tham gia hội
chợ, triển lãm thương mại ở
nước ngoài
1. Tất
cả các loại hàng hóa, dịch
vụ đều được tham gia hội
chợ, triển lãm thương mại ở
nước ngoài, trừ hàng hóa,
dịch vụ thuộc diện cấm xuất
khẩu theo quy định của pháp
luật.
2. Hàng
hóa, dịch vụ thuộc diện cấm
xuất khẩu chỉ được tham gia
hội chợ, triển lãm thương
mại ở nước ngoài khi được sự
chấp thuận của Thủ tướng
Chính phủ.
3. Thời
hạn tạm xuất khẩu hàng hóa
để tham gia hội chợ, triển
lãm thương mại ở nước ngoài
là một năm kể từ ngày hàng
hóa được tạm xuất khẩu; nếu
quá thời hạn nói trên mà
chưa được tái nhập khẩu thì
hàng hóa đó phải chịu thuế
và các nghĩa vụ tài chính
khác theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
4. Việc
tạm xuất, tái nhập hàng hóa
tham gia hội chợ, triển lãm
thương mại ở nước ngoài phải
tuân thủ các quy định của
pháp luật về hải quan và các
quy định khác của pháp luật
có liên quan.
Điều 136. Bán,
tặng hàng hoá, cung ứng dịch
vụ tại hội chợ, triển lãm
thương mại tại Việt Nam
1. Hàng
hoá, dịch vụ trưng bày, giới
thiệu tại hội chợ, triển lãm
thương mại tại Việt Nam được
phép bán, tặng, cung ứng tại
hội chợ, triển lãm thương
mại; đối với hàng hóa nhập
khẩu phải đăng ký với hải
quan, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Hàng
hóa thuộc diện nhập khẩu
phải có giấy phép của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
chỉ được bán, tặng sau khi
được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chấp thuận bằng
văn bản.
3. Việc
bán, tặng hàng hoá tại hội
chợ, triển lãm thương mại
quy định tại khoản 2 Điều
134 của Luật này phải tuân
thủ các quy định về quản lý
chuyên ngành nhập khẩu đối
với hàng hóa đó.
4. Hàng
hóa được bán, tặng, dịch vụ
được cung ứng tại hội chợ,
triển lãm thương mại tại
Việt Nam phải chịu thuế và
các nghĩa vụ tài chính khác
theo quy định của pháp luật.
Điều 137. Bán,
tặng hàng hóa, cung ứng dịch
vụ của Việt Nam tham gia hội
chợ, triển lãm thương mại ở
nước ngoài
1. Hàng
hóa, dịch vụ của Việt Nam
tham gia hội chợ, triển lãm
thương mại ở nước ngoài được
phép bán, tặng, cung ứng tại
hội chợ, triển lãm, trừ
trường hợp quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2. Việc
bán, tặng hàng hóa thuộc
diện cấm xuất khẩu nhưng đã
được tạm xuất khẩu để tham
gia hội chợ, triển lãm
thương mại ở nước ngoài chỉ
được thực hiện sau khi có sự
chấp thuận của Thủ tướng
Chính phủ.
3. Hàng
hóa thuộc diện xuất khẩu
phải có giấy phép của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
chỉ được bán, tặng sau khi
được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chấp thuận bằng
văn bản.
4. Hàng
hóa, dịch vụ của Việt Nam
tham gia hội chợ, triển lãm
thương mại ở nước ngoài được
bán, tặng, cung ứng ở nước
ngoài phải chịu thuế và các
nghĩa vụ tài chính khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 138. Quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân tham gia hội chợ, triển
lãm thương mại tại Việt Nam
1. Thực
hiện các quyền và nghĩa vụ
theo thỏa thuận với thương
nhân tổ chức hội chợ, triển
lãm thương mại.
2. Bán,
tặng hàng hoá, cung ứng dịch
vụ được trưng bày, giới
thiệu tại hội chợ, triển lãm
thương mại theo quy định của
pháp luật.
3. Được
tạm nhập, tái xuất hàng hoá,
tài liệu về hàng hoá, dịch
vụ để trưng bày tại hội chợ,
triển lãm thương mại.
4. Tuân
thủ các quy định về tổ chức
hội chợ, triển lãm thương
mại tại Việt Nam.
Điều 139. Quyền
và nghĩa vụ của thương nhân
tổ chức, tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại ở nước
ngoài
1. Được
tạm xuất, tái nhập hàng hoá
và tài liệu về hàng hoá,
dịch vụ để trưng bày, giới
thiệu tại hội chợ, triển lãm
thương mại.
2. Phải
tuân thủ các quy định về
việc tổ chức, tham gia hội
chợ, triển lãm thương mại ở
nước ngoài.
3. Được
bán, tặng hàng hoá trưng
bày, giới thiệu tại hội chợ,
triển lãm thương mại ở nước
ngoài; phải nộp thuế và thực
hiện các nghĩa vụ tài chính
khác theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
Điều 140. Quyền
và nghĩa vụ của thương nhân
kinh doanh dịch vụ hội chợ,
triển lãm thương mại
1. Niêm
yết chủ đề, thời gian tiến
hành hội chợ, triển lãm
thương mại tại nơi tổ chức
hội chợ, triển lãm thương
mại đó trước ngày khai mạc
hội chợ, triển lãm thương
mại.
2. Yêu
cầu bên thuê dịch vụ cung
cấp hàng hoá để tham gia hội
chợ, triển lãm thương mại
theo thời hạn đã thoả thuận
trong hợp đồng.
3. Yêu
cầu bên thuê dịch vụ cung
cấp thông tin về hàng hoá,
dịch vụ để tham gia hội chợ,
triển lãm thương mại và các
phương tiện cần thiết khác
theo thoả thuận trong hợp
đồng.
4. Nhận
thù lao dịch vụ và các chi
phí hợp lý khác.
5. Thực
hiện việc tổ chức hội chợ,
triển lãm thương mại theo
thoả thuận trong hợp đồng.
CHƯƠNG V
CÁC HOẠT ĐỘNG TRUNG GIAN
THƯƠNG MẠI
MỤC 1
ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN
Điều 141. Đại
diện cho thương nhân
1. Đại
diện cho thương nhân là việc
một thương nhân nhận uỷ
nhiệm (gọi là bên đại diện)
của thương nhân khác (gọi là
bên giao đại diện) để thực
hiện các hoạt động thương
mại với danh nghĩa, theo sự
chỉ dẫn của thương nhân đó
và được hưởng thù lao về
việc đại diện.
2.
Trong trường hợp thương nhân
cử người của mình để làm đại
diện cho mình thì áp dụng
quy định của Bộ luật dân sự.
Điều 142. Hợp
đồng đại diện cho thương
nhân
Hợp
đồng đại diện cho thương
nhân phải được lập thành văn
bản hoặc bằng hình thức khác
có giá trị pháp lý tương
đương.
Điều 143. Phạm vi
đại diện
Các bên
có thể thoả thuận về việc
bên đại diện được thực hiện
một phần hoặc toàn bộ hoạt
động thương mại thuộc phạm
vi hoạt động của bên giao
đại diện.
Điều 144. Thời
hạn đại diện cho thương nhân
1. Thời
hạn đại diện do các bên thoả
thuận.
2.
Trường hợp không có thoả
thuận, thời hạn đại diện
chấm dứt khi bên giao đại
diện thông báo cho bên đại
diện về việc chấm dứt hợp
đồng đại diện hoặc bên đại
diện thông báo cho bên giao
đại diện về việc chấm dứt
hợp đồng.
3. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, nếu bên giao đại diện
đơn phương thông báo chấm
dứt hợp đồng đại diện theo
quy định tại khoản 2 Điều
này thì bên đại diện có
quyền yêu cầu bên giao đại
diện trả một khoản thù lao
do việc bên giao đại diện
giao kết các hợp đồng với
khách hàng mà bên đại diện
đã giao dịch và những khoản
thù lao khác mà đáng lẽ mình
được hưởng.
4.
Trường hợp thời hạn đại diện
chấm dứt theo quy định tại
khoản 2 Điều này theo yêu
cầu của bên đại diện thì bên
đại diện bị mất quyền hưởng
thù lao đối với các giao
dịch mà đáng lẽ mình được
hưởng nếu các bên không có
thoả thuận khác.
Điều 145. Nghĩa
vụ của bên đại diện
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên đại diện có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Thực
hiện các hoạt động thương
mại với danh nghĩa và vì lợi
ích của bên giao đại diện;
2.
Thông báo cho bên giao đại
diện về cơ hội và kết quả
thực hiện các hoạt động
thương mại đã được uỷ quyền;
3. Tuân
thủ chỉ dẫn của bên giao đại
diện nếu chỉ dẫn đó không vi
phạm quy định của pháp luật;
4.
Không được thực hiện các
hoạt động thương mại với
danh nghĩa của mình hoặc của
người thứ ba trong phạm vi
đại diện;
5.
Không được tiết lộ hoặc cung
cấp cho người khác các bí
mật liên quan đến hoạt động
thương mại của bên giao đại
diện trong thời gian làm đại
diện và trong thời hạn hai
năm, kể từ khi chấm dứt hợp
đồng đại diện;
6. Bảo
quản tài sản, tài liệu được
giao để thực hiện hoạt động
đại diện.
Điều 146. Nghĩa
vụ của bên giao đại diện
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên giao đại diện có
các nghĩa vụ sau đây:
1.
Thông báo ngay cho bên đại
diện về việc giao kết hợp
đồng mà bên đại diện đã giao
dịch, việc thực hiện hợp
đồng mà bên đại diện đã giao
kết, việc chấp nhận hay
không chấp nhận các hoạt
động ngoài phạm vi đại diện
mà bên đại diện thực hiện;
2. Cung
cấp tài sản, tài liệu, thông
tin cần thiết để bên đại
diện thực hiện hoạt động đại
diện;
3. Trả
thù lao và các chi phí hợp
lý khác cho bên đại diện;
4.
Thông báo kịp thời cho bên
đại diện về khả năng không
giao kết được, không thực
hiện được hợp đồng trong
phạm vi đại diện.
Điều 147. Quyền
hưởng thù lao đại diện
1. Bên
đại diện được hưởng thù lao
đối với hợp đồng được giao
kết trong phạm vi đại diện.
Quyền được hưởng thù lao
phát sinh từ thời điểm do
các bên thoả thuận trong hợp
đồng đại diện.
2.
Trường hợp không có thỏa
thuận, mức thù lao cho bên
đại diện được xác định theo
quy định tại Điều 86 của
Luật này.
Điều 148. Thanh
toán chi phí phát sinh
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên đại diện có quyền
yêu cầu được thanh toán các
khoản chi phí phát sinh hợp
lý để thực hiện hoạt động
đại diện.
Điều 149. Quyền
cầm giữ
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên đại diện có quyền
cầm giữ tài sản, tài liệu
được giao để bảo đảm việc
thanh toán các khoản thù lao
và chi phí đã đến hạn.
MỤC 2
MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI
Điều 150. Môi
giới thương mại
Môi
giới thương mại là hoạt động
thương mại, theo đó một
thương nhân làm trung gian
(gọi là bên môi giới) cho
các bên mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ (gọi là bên
được môi giới) trong việc
đàm phán, giao kết hợp đồng
mua bán hàng hoá, dịch vụ và
được hưởng thù lao theo hợp
đồng môi giới.
Điều 151. Nghĩa
vụ của bên môi giới thương
mại
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên môi giới thương
mại có các nghĩa vụ sau đây:
1. Bảo
quản các mẫu hàng hoá, tài
liệu được giao để thực hiện
việc môi giới và phải hoàn
trả cho bên được môi giới
sau khi hoàn thành việc môi
giới;
2.
Không được tiết lộ, cung cấp
thông tin làm phương hại đến
lợi ích của bên được môi
giới;
3. Chịu
trách nhiệm về tư cách pháp
lý của các bên được môi
giới, nhưng không chịu trách
nhiệm về khả năng thanh toán
của họ;
4.
Không được tham gia thực
hiện hợp đồng giữa các bên
được môi giới, trừ trường
hợp có uỷ quyền của bên được
môi giới.
Điều 152. Nghĩa
vụ của bên được môi giới
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên được môi giới có
các nghĩa vụ sau đây:
1. Cung
cấp các thông tin, tài liệu,
phương tiện cần thiết liên
quan đến hàng hoá, dịch vụ;
2. Trả
thù lao môi giới và các chi
phí hợp lý khác cho bên môi
giới.
Điều 153. Quyền
hưởng thù lao môi giới
1. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, quyền hưởng thù lao
môi giới phát sinh từ thời
điểm các bên được môi giới
đã ký hợp đồng với nhau.
2.
Trường hợp không có thỏa
thuận, mức thù lao môi giới
được xác định theo quy định
tại Điều 86 của Luật này.
Điều 154. Thanh
toán chi phí phát sinh liên
quan đến việc môi giới
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên được môi giới phải
thanh toán các chi phí phát
sinh hợp lý liên quan đến
việc môi giới, kể cả khi
việc môi giới không mang lại
kết quả cho bên được môi
giới.
MỤC 3
ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA
Điều 155. Uỷ thác
mua bán hàng hóa
Uỷ thác
mua bán hàng hoá là hoạt
động thương mại, theo đó bên
nhận uỷ thác thực hiện việc
mua bán hàng hoá với danh
nghĩa của mình theo những
điều kiện đã thoả thuận với
bên uỷ thác và được nhận thù
lao uỷ thác.
Điều 156. Bên
nhận uỷ thác
Bên
nhận uỷ thác mua bán hàng
hoá là thương nhân kinh
doanh mặt hàng phù hợp với
hàng hoá được uỷ thác và
thực hiện mua bán hàng hoá
theo những điều kiện đã thoả
thuận với bên uỷ thác.
Điều 157. Bên uỷ
thác
Bên uỷ
thác mua bán hàng hoá là
thương nhân hoặc không phải
là thương nhân giao cho bên
nhận uỷ thác thực hiện mua
bán hàng hoá theo yêu cầu
của mình và phải trả thù lao
uỷ thác.
Điều 158. Hàng
hoá uỷ thác
Tất cả
hàng hoá lưu thông hợp pháp
đều có thể được uỷ thác mua
bán.
Điều 159. Hợp
đồng uỷ thác
Hợp
đồng uỷ thác mua bán hàng
hoá phải được lập thành văn
bản hoặc bằng hình thức khác
có giá trị pháp lý tương
đương.
Điều 160. Uỷ thác
lại cho bên thứ ba
Bên
nhận uỷ thác không được uỷ
thác lại cho bên thứ ba thực
hiện hợp đồng uỷ thác mua
bán hàng hoá đã ký, trừ
trường hợp có sự chấp thuận
bằng văn bản của bên uỷ
thác.
Điều 161. Nhận uỷ
thác của nhiều bên
Bên
nhận uỷ thác có thể nhận uỷ
thác mua bán hàng hoá của
nhiều bên uỷ thác khác nhau.
Điều 162. Quyền
của bên uỷ thác
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên uỷ thác có các
quyền sau đây:
1. Yêu
cầu bên nhận uỷ thác thông
báo đầy đủ về tình hình thực
hiện hợp đồng uỷ thác;
2.
Không chịu trách nhiệm trong
trường hợp bên nhận uỷ thác
vi phạm pháp luật, trừ
trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều 163 của Luật
này.
Điều 163. Nghĩa
vụ của bên uỷ thác
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên uỷ thác có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Cung
cấp thông tin, tài liệu và
phương tiện cần thiết cho
việc thực hiện hợp đồng uỷ
thác;
2. Trả
thù lao uỷ thác và các chi
phí hợp lý khác cho bên nhận
ủy thác;
3. Giao
tiền, giao hàng theo đúng
thoả thuận;
4. Liên
đới chịu trách nhiệm trong
trường hợp bên nhận uỷ thác
vi phạm pháp luật mà nguyên
nhân do bên uỷ thác gây ra
hoặc do các bên cố ý làm
trái pháp luật.
Điều 164. Quyền
của bên nhận uỷ thác
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên nhận uỷ thác có
các quyền sau đây:
1. Yêu
cầu bên uỷ thác cung cấp
thông tin, tài liệu cần
thiết cho việc thực hiện hợp
đồng uỷ thác;
2. Nhận
thù lao uỷ thác và các chi
phí hợp lý khác;
3.
Không chịu trách nhiệm về
hàng hoá đã bàn giao đúng
thoả thuận cho bên uỷ thác.
Điều 165. Nghĩa
vụ của bên nhận uỷ thác
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên nhận uỷ thác có
các nghĩa vụ sau đây:
1. Thực
hiện mua bán hàng hoá theo
thỏa thuận;
2.
Thông báo cho bên uỷ thác về
các vấn đề có liên quan đến
việc thực hiện hợp đồng uỷ
thác;
3. Thực
hiện các chỉ dẫn của bên uỷ
thác phù hợp với thoả thuận;
4. Bảo
quản tài sản, tài liệu được
giao để thực hiện hợp đồng
uỷ thác;
5. Giữ
bí mật về những thông tin có
liên quan đến việc thực hiện
hợp đồng uỷ thác;
6. Giao
tiền, giao hàng theo đúng
thoả thuận;
7. Liên
đới chịu trách nhiệm về hành
vi vi phạm pháp luật của bên
ủy thác, nếu nguyên nhân của
hành vi vi phạm pháp luật đó
có một phần do lỗi của mình
gây ra.
MỤC 4
ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI
Điều 166. Đại lý
thương mại
Đại lý
thương mại là hoạt động
thương mại, theo đó bên giao
đại lý và bên đại lý thoả
thuận việc bên đại lý nhân
danh chính mình mua, bán
hàng hoá cho bên giao đại lý
hoặc cung ứng dịch vụ của
bên giao đại lý cho khách
hàng để hưởng thù lao.
Điều 167. Bên
giao đại lý, bên đại lý
1. Bên
giao đại lý là thương nhân
giao hàng hoá cho đại lý bán
hoặc giao tiền mua hàng cho
đại lý mua hoặc là thương
nhân uỷ quyền thực hiện dịch
vụ cho đại lý cung ứng dịch
vụ.
2. Bên
đại lý là thương nhân nhận
hàng hoá để làm đại lý bán,
nhận tiền mua hàng để làm
đại lý mua hoặc là bên nhận
uỷ quyền cung ứng dịch vụ.
Điều 168. Hợp
đồng đại lý
Hợp
đồng đại lý phải được lập
thành văn bản hoặc bằng hình
thức khác có giá trị pháp lý
tương đương.
Điều 169. Các
hình thức đại lý
1. Đại
lý bao tiêu là hình thức đại
lý mà bên đại lý thực hiện
việc mua, bán trọn vẹn một
khối lượng hàng hoá hoặc
cung ứng đầy đủ một dịch vụ
cho bên giao đại lý.
2. Đại
lý độc quyền là hình thức
đại lý mà tại một khu vực
địa lý nhất định bên giao
đại lý chỉ giao cho một đại
lý mua, bán một hoặc một số
mặt hàng hoặc cung ứng một
hoặc một số loại dịch vụ
nhất định.
3. Tổng
đại lý mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ là hình
thức đại lý mà bên đại lý tổ
chức một hệ thống đại lý
trực thuộc để thực hiện việc
mua bán hàng hoá, cung ứng
dịch vụ cho bên giao đại lý.
Tổng
đại lý đại diện cho hệ thống
đại lý trực thuộc. Các đại
lý trực thuộc hoạt động dưới
sự quản lý của tổng đại lý
và với danh nghĩa của tổng
đại lý.
4. Các
hình thức đại lý khác mà các
bên thỏa thuận.
Điều 170. Quyền
sở hữu trong đại lý thương
mại
Bên
giao đại lý là chủ sở hữu
đối với hàng hoá hoặc tiền
giao cho bên đại lý.
Điều 171. Thù lao
đại lý
1. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, thù lao đại lý được
trả cho bên đại lý dưới hình
thức hoa hồng hoặc chênh
lệch giá.
2.
Trường hợp bên giao đại lý
ấn định giá mua, giá bán
hàng hóa hoặc giá cung ứng
dịch vụ cho khách hàng thì
bên đại lý được hưởng hoa
hồng tính theo tỷ lệ phần
trăm trên giá mua, giá bán
hàng hóa hoặc giá cung ứng
dịch vụ.
3.
Trường hợp bên giao đại lý
không ấn định giá mua, giá
bán hàng hoá hoặc giá cung
ứng dịch vụ cho khách hàng
mà chỉ ấn định giá giao đại
lý cho bên đại lý thì bên
đại lý được hưởng chênh lệch
giá. Mức chênh lệch giá được
xác định là mức chênh lệch
giữa giá mua, giá bán, giá
cung ứng dịch vụ cho khách
hàng so với giá do bên giao
đại lý ấn định cho bên đại
lý.
4.
Trường hợp các bên không có
thoả thuận về mức thù lao
đại lý thì mức thù lao được
tính như sau:
a) Mức
thù lao thực tế mà các bên
đã được trả trước đó;
b)
Trường hợp không áp dụng
được điểm a khoản này thì
mức thù lao đại lý là mức
thù lao trung bình được áp
dụng cho cùng loại hàng hoá,
dịch vụ mà bên giao đại lý
đã trả cho các đại lý khác;
c)
Trường hợp không áp dụng
được điểm a và điểm b khoản
này thì mức thù lao đại lý
là mức thù lao thông thường
được áp dụng cho cùng loại
hàng hoá, dịch vụ trên thị
trường.
Điều 172. Quyền
của bên giao đại lý
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên giao đại lý có các
quyền sau đây:
1. ấn
định giá mua, giá bán hàng
hoá, giá cung ứng dịch vụ
đại lý cho khách hàng;
2.
Ấn định giá giao đại
lý;
3. Yêu
cầu bên đại lý thực hiện
biện pháp bảo đảm theo quy
định của pháp luật;
4. Yêu
cầu bên đại lý thanh toán
tiền hoặc giao hàng theo hợp
đồng đại lý;
5. Kiểm
tra, giám sát việc thực hiện
hợp đồng của bên đại lý.
Điều 173. Nghĩa
vụ của bên giao đại lý
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên giao đại lý có các
nghĩa vụ sau đây:
1.
Hướng dẫn, cung cấp thông
tin, tạo điều kiện cho bên
đại lý thực hiện hợp đồng
đại lý;
2. Chịu
trách nhiệm về chất lượng
hàng hóa của đại lý mua bán
hàng hóa, chất lượng dịch vụ
của đại lý cung ứng dịch vụ;
3. Trả
thù lao và các chi phí hợp
lý khác cho bên đại lý;
4. Hoàn
trả cho bên đại lý tài sản
của bên đại lý dùng để bảo
đảm (nếu có) khi kết thúc
hợp đồng đại lý;
5. Liên
đới chịu trách nhiệm về hành
vi vi phạm pháp luật của bên
đại lý, nếu nguyên nhân của
hành vi vi phạm pháp luật đó
có một phần do lỗi của mình
gây ra.
Điều 174. Quyền
của bên đại lý
Trừ
trường hợp các bên có thỏa
thuận khác, bên đại lý có
các quyền sau đây:
1. Giao
kết hợp đồng đại lý với một
hoặc nhiều bên giao đại lý,
trừ trường hợp quy định tại
khoản 7 Điều 175 của Luật
này;
2. Yêu
cầu bên giao đại lý giao
hàng hoặc tiền theo hợp đồng
đại lý; nhận lại tài sản
dùng để bảo đảm (nếu có) khi
kết thúc hợp đồng đại lý;
3. Yêu
cầu bên giao đại lý hướng
dẫn, cung cấp thông tin và
các điều kiện khác có liên
quan để thực hiện hợp đồng
đại lý;
4.
Quyết định giá bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ cho khách
hàng đối với đại lý bao
tiêu;
5.
Hưởng thù lao, các quyền và
lợi ích hợp pháp khác do
hoạt động đại lý mang lại.
Điều 175. Nghĩa
vụ của bên đại lý
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên đại lý có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Mua,
bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ cho khách hàng theo giá
hàng hóa, giá cung ứng dịch
vụ do bên giao đại lý ấn
định;
2. Thực
hiện đúng các thỏa thuận về
giao nhận tiền, hàng với bên
giao đại lý;
3. Thực
hiện các biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự
theo quy định của pháp luật;
4.
Thanh toán cho bên giao đại
lý tiền bán hàng đối với đại
lý bán; giao hàng mua đối
với đại lý mua; tiền cung
ứng dịch vụ đối với đại lý
cung ứng dịch vụ;
5. Bảo
quản hàng hoá sau khi nhận
đối với đại lý bán hoặc
trước khi giao đối với đại
lý mua; liên đới chịu trách
nhiệm về chất lượng hàng hóa
của đại lý mua bán hàng hóa,
chất lượng dịch vụ của đại
lý cung ứng dịch vụ trong
trường hợp có lỗi do mình
gây ra;
6. Chịu
sự kiểm tra, giám sát của
bên giao đại lý và báo cáo
tình hình hoạt động đại lý
với bên giao đại lý;
7.
Trường hợp pháp luật có quy
định cụ thể về việc bên đại
lý chỉ được giao kết hợp
đồng đại lý với một bên giao
đại lý đối với một loại hàng
hóa hoặc dịch vụ nhất định
thì phải tuân thủ quy định
của pháp luật đó.
Điều 176. Thanh
toán trong đại lý
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, việc thanh toán tiền
hàng, tiền cung ứng dịch vụ
và thù lao đại lý được thực
hiện theo từng đợt sau khi
bên đại lý hoàn thành việc
mua, bán một khối lượng hàng
hoá hoặc cung ứng một khối
lượng dịch vụ nhất định.
Điều 177. Thời
hạn đại lý
1. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, thời hạn đại lý chỉ
chấm dứt sau một thời gian
hợp lý nhưng không sớm hơn
sáu mươi ngày, kể từ ngày
một trong hai bên thông báo
bằng văn bản cho bên kia về
việc chấm dứt hợp đồng đại
lý.
2. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, nếu bên giao đại lý
thông báo chấm dứt hợp đồng
theo quy định tại khoản 1
Điều này thì bên đại lý có
quyền yêu cầu bên giao đại
lý bồi thường một khoản tiền
cho thời gian mà mình đã làm
đại lý cho bên giao đại lý
đó.
Giá trị
của khoản bồi thường là một
tháng thù lao đại lý trung
bình trong thời gian nhận
đại lý cho mỗi năm mà bên
đại lý làm đại lý cho bên
giao đại lý. Trong trường
hợp thời gian đại lý dưới
một năm thì khoản bồi thường
được tính là một tháng thù
lao đại lý trung bình trong
thời gian nhận đại lý.
3.
Trường hợp hợp đồng đại lý
được chấm dứt trên cơ sở yêu
cầu của bên đại lý thì bên
đại lý không có quyền yêu
cầu bên giao đại lý bồi
thường cho thời gian mà mình
đã làm đại lý cho bên giao
đại lý.
CHƯƠNG VI
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
CỤ THỂ KHÁC
MỤC 1
GIA CÔNG TRONG THƯƠNG MẠI
Điều 178. Gia
công trong thương mại
Gia
công trong thương mại là
hoạt động thương mại, theo
đó bên nhận gia công sử dụng
một phần hoặc toàn bộ nguyên
liệu, vật liệu của bên đặt
gia công để thực hiện một
hoặc nhiều công đoạn trong
quá trình sản xuất theo yêu
cầu của bên đặt gia công để
hưởng thù lao.
Điều 179. Hợp
đồng gia công
Hợp
đồng gia công phải được lập
thành văn bản hoặc bằng hình
thức khác có giá trị pháp lý
tương đương.
Điều 180. Hàng
hóa gia công
1. Tất
cả các loại hàng hóa đều có
thể được gia công, trừ
trường hợp hàng hóa thuộc
diện cấm kinh doanh.
2.
Trường hợp gia công hàng hóa
cho thương nhân nước ngoài
để tiêu thụ ở nước ngoài thì
hàng hóa thuộc diện cấm kinh
doanh, cấm xuất khẩu, cấm
nhập khẩu có thể được gia
công nếu được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép.
Điều 181. Quyền
và nghĩa vụ của bên đặt gia
công
1. Giao
một phần hoặc toàn bộ nguyên
liệu, vật liệu gia công theo
đúng hợp đồng gia công hoặc
giao tiền để mua vật liệu
theo số lượng, chất lượng và
mức giá thoả thuận.
2. Nhận
lại toàn bộ sản phẩm gia
công, máy móc, thiết bị cho
thuê hoặc cho mượn, nguyên
liệu, phụ liệu, vật tư, phế
liệu sau khi thanh lý hợp
đồng gia công, trừ trường
hợp có thoả thuận khác.
3. Bán,
tiêu huỷ, tặng biếu tại chỗ
sản phẩm gia công, máy móc,
thiết bị cho thuê hoặc cho
mượn, nguyên liệu, phụ liệu,
vật tư dư thừa, phế phẩm,
phế liệu theo thoả thuận và
phù hợp với quy định của
pháp luật.
4. Cử
người đại diện để kiểm tra,
giám sát việc gia công tại
nơi nhận gia công, cử chuyên
gia để hướng dẫn kỹ thuật
sản xuất và kiểm tra chất
lượng sản phẩm gia công theo
thoả thuận trong hợp đồng
gia công.
5. Chịu
trách nhiệm đối với tính hợp
pháp về quyền sở hữu trí tuệ
của hàng hoá gia công,
nguyên liệu, vật liệu, máy
móc, thiết bị dùng để gia
công chuyển cho bên nhận gia
công.
Điều 182. Quyền
và nghĩa vụ của bên nhận gia
công
1. Cung
ứng một phần hoặc toàn bộ
nguyên liệu, vật liệu để gia
công theo thỏa thuận với bên
đặt gia công về số lượng,
chất lượng, tiêu chuẩn kỹ
thuật và giá.
2. Nhận
thù lao gia công và các chi
phí hợp lý khác.
3.
Trường hợp nhận gia công cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài,
bên nhận gia công được xuất
khẩu tại chỗ sản phẩm gia
công, máy móc, thiết bị thuê
hoặc mượn, nguyên liệu, phụ
liệu, vật tư dư thừa, phế
phẩm, phế liệu theo uỷ quyền
của bên đặt gia công.
4.
Trường hợp nhận gia công cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài,
bên nhận gia công được miễn
thuế nhập khẩu đối với máy
móc, thiết bị, nguyên liệu,
phụ liệu, vật tư tạm nhập
khẩu theo định mức để thực
hiện hợp đồng gia công theo
quy định của pháp luật về
thuế.
5. Chịu
trách nhiệm về tính hợp pháp
của hoạt động gia công hàng
hoá trong trường hợp hàng
hoá gia công thuộc diện cấm
kinh doanh, cấm xuất khẩu,
cấm nhập khẩu.
Điều 183. Thù lao
gia công
1. Bên
nhận gia công có thể nhận
thù lao gia công bằng tiền
hoặc bằng sản phẩm gia công,
máy móc, thiết bị dùng để
gia công.
2.
Trường hợp gia công hàng hóa
cho tổ chức, cá nhân nước
ngoài, nếu bên nhận gia công
nhận thù lao gia công bằng
sản phẩm gia công, máy móc,
thiết bị dùng để gia công
thì phải tuân thủ các quy
định về nhập khẩu đối với
sản phẩm, máy móc, thiết bị
đó.
Điều 184. Chuyển
giao công nghệ trong gia
công với tổ chức, cá nhân
nước ngoài
Việc
chuyển giao công nghệ trong
gia công với tổ chức, cá
nhân nước ngoài được thực
hiện theo thoả thuận trong
hợp đồng gia công và phải
phù hợp với các quy định của
pháp luật Việt Nam về chuyển
giao công nghệ.
MỤC 2
ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA
Điều 185. Đấu giá
hàng hoá
1. Đấu
giá hàng hoá là hoạt động
thương mại, theo đó người
bán hàng tự mình hoặc thuê
người tổ chức đấu giá thực
hiện việc bán hàng hoá công
khai để chọn người mua trả
giá cao nhất.
2. Việc
đấu giá hàng hoá được thực
hiện theo một trong hai
phương thức sau đây:
a)
Phương thức trả giá lên là
phương thức bán đấu giá,
theo đó người trả giá cao
nhất so với giá khởi điểm là
người có quyền mua hàng;
b)
Phương thức đặt giá xuống là
phương thức bán đấu giá,
theo đó người đầu tiên chấp
nhận ngay mức giá khởi điểm
hoặc mức giá được hạ thấp
hơn mức giá khởi điểm là
người có quyền mua hàng.
Điều 186. Người
tổ chức đấu giá, người bán
hàng
1.
Người tổ chức đấu giá là
thương nhân có đăng ký kinh
doanh dịch vụ đấu giá hoặc
là người bán hàng của mình
trong trường hợp người bán
hàng tự tổ chức đấu giá.
2.
Người bán hàng là chủ sở hữu
hàng hoá, người được chủ sở
hữu hàng hoá uỷ quyền bán
hoặc người có quyền bán hàng
hoá của người khác theo quy
định của pháp luật.
Điều 187. Người
tham gia đấu giá, người điều
hành đấu giá
1.
Người tham gia đấu giá hàng
hoá là tổ chức, cá nhân đăng
ký tham gia cuộc đấu giá.
2.
Người điều hành đấu giá là
người tổ chức đấu giá hoặc
người được người tổ chức đấu
giá uỷ quyền điều hành bán
đấu giá.
Điều 188. Nguyên
tắc đấu giá
Việc
đấu giá hàng hoá trong
thương mại phải được thực
hiện theo nguyên tắc công
khai, trung thực, bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của
các bên tham gia.
Điều 189. Quyền
của người tổ chức đấu giá
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, người tổ chức đấu giá
có các quyền sau đây:
1. Yêu
cầu người bán hàng cung cấp
đầy đủ, chính xác, kịp thời
các thông tin cần thiết liên
quan đến hàng hoá đấu giá,
tạo điều kiện cho người tổ
chức đấu giá hoặc người tham
gia đấu giá kiểm tra hàng
hoá đấu giá và giao hàng hoá
được bán đấu giá cho người
mua hàng trong trường hợp
người tổ chức đấu giá không
phải là người bán hàng đấu
giá;
2. Xác
định giá khởi điểm trong
trường hợp người tổ chức đấu
giá là người bán hàng đấu
giá hoặc được người bán hàng
uỷ quyền;
3. Tổ
chức cuộc đấu giá;
4. Yêu
cầu người mua hàng thực hiện
việc thanh toán;
5. Nhận
thù lao dịch vụ đấu giá do
người bán hàng trả theo quy
định tại Điều 211 của Luật
này.
Điều 190. Nghĩa
vụ của người tổ chức đấu giá
1. Tổ
chức đấu giá hàng hoá theo
đúng nguyên tắc, thủ tục do
pháp luật quy định và theo
phương thức đấu giá thoả
thuận với người bán hàng.
2.
Thông báo, niêm yết công
khai, đầy đủ, chính xác các
thông tin cần thiết có liên
quan đến hàng hoá đấu giá.
3. Bảo
quản hàng hoá đấu giá khi
được người bán hàng giao
giữ.
4.
Trưng bày hàng hoá, mẫu hàng
hóa hoặc tài liệu giới thiệu
về hàng hóa cho người tham
gia đấu giá xem xét.
5. Lập
văn bản bán đấu giá hàng hoá
và gửi đến người bán hàng,
người mua hàng và các bên có
liên quan quy định tại Điều
203 của Luật này.
6. Giao
hàng hóa đấu giá cho người
mua phù hợp với hợp đồng tổ
chức dịch vụ đấu giá hàng
hoá.
7. Làm
thủ tục chuyển quyền sở hữu
đối với hàng hoá bán đấu giá
phải đăng ký quyền sở hữu
theo quy định của pháp luật,
trừ trường hợp có thỏa thuận
khác với người bán hàng.
8.
Thanh toán cho người bán
hàng tiền hàng đã bán, kể cả
khoản tiền chênh lệch thu
được từ người rút lại giá đã
trả quy định tại khoản 3
Điều 204 của Luật này hoặc
trả lại hàng hoá không bán
được cho người bán hàng theo
thoả thuận. Trường hợp không
có thoả thuận thì phải thanh
toán tiền cho người bán hàng
chậm nhất là ba ngày làm
việc sau khi nhận được tiền
của người mua hàng hoặc phải
trả lại ngay hàng hoá trong
thời hạn hợp lý sau cuộc đấu
giá.
Điều 191. Quyền
của người bán hàng không
phải là người tổ chức đấu
giá
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, người bán hàng có các
quyền sau đây:
1. Nhận
tiền hàng đã bán đấu giá và
khoản chênh lệch thu được
trong trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 204 của
Luật này hoặc nhận lại hàng
hoá trong trường hợp đấu giá
không thành;
2. Giám
sát việc tổ chức bán đấu giá
hàng hoá.
Điều 192. Nghĩa
vụ của người bán hàng không
phải là người tổ chức đấu
giá
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, người bán hàng có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Giao
hàng hoá cho người tổ chức
đấu giá, tạo điều kiện để
người tổ chức đấu giá, người
tham gia đấu giá xem xét
hàng hoá và cung cấp đầy đủ,
chính xác, kịp thời các
thông tin cần thiết liên
quan đến hàng hoá đấu giá;
2. Trả
thù lao dịch vụ tổ chức đấu
giá theo quy định tại Điều
211 của Luật này.
Điều 193. Hợp
đồng dịch vụ tổ chức đấu giá
hàng hoá
1. Hợp
đồng dịch vụ tổ chức đấu giá
hàng hoá phải được lập thành
văn bản hoặc bằng hình thức
khác có giá trị pháp lý
tương đương.
2.
Trường hợp hàng hoá được đấu
giá là đối tượng cầm cố, thế
chấp thì hợp đồng dịch vụ tổ
chức đấu giá phải được sự
đồng ý của bên nhận cầm cố,
thế chấp và bên bán phải
thông báo cho các bên tham
gia đấu giá về hàng hóa đang
bị cầm cố, thế chấp.
3.
Trường hợp trong hợp đồng
cầm cố, thế chấp có thoả
thuận về việc bán đấu giá mà
người cầm cố, thế chấp vắng
mặt không có lý do chính
đáng hoặc từ chối giao kết
hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu
giá hàng hoá thì hợp đồng
dịch vụ tổ chức đấu giá được
giao kết giữa người nhận cầm
cố, thế chấp với người tổ
chức đấu giá.
Điều 194. Xác
định giá khởi điểm
1.
Người bán hàng phải xác định
giá khởi điểm. Trong trường
hợp người tổ chức đấu giá
được uỷ quyền xác định giá
khởi điểm thì phải thông báo
cho người bán hàng trước khi
niêm yết việc bán đấu giá.
2.
Trường hợp hàng hoá đấu giá
là đối tượng cầm cố, thế
chấp thì người nhận cầm cố,
thế chấp phải thoả thuận với
người cầm cố, thế chấp xác
định giá khởi điểm.
3.
Trường hợp trong hợp đồng
cầm cố, thế chấp có thoả
thuận về việc bán đấu giá mà
người cầm cố, thế chấp vắng
mặt không có lý do chính
đáng hoặc từ chối giao kết
hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu
giá hàng hoá thì giá khởi
điểm do người nhận cầm cố,
thế chấp xác định.
Điều 195. Thông
báo cho người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan đến
hàng hóa là đối tượng cầm
cố, thế chấp
Trường
hợp hàng hoá là đối tượng
cầm cố, thế chấp, thì đồng
thời với việc niêm yết đấu
giá hàng hoá, người tổ chức
đấu giá phải thông báo cho
những người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan trong
thời hạn chậm nhất là bảy
ngày làm việc trước khi tiến
hành bán đấu giá hàng hóa đó
theo quy định tại Điều 197
của Luật này.
Điều 196. Thời
hạn thông báo và niêm yết
đấu giá hàng hoá
1. Chậm
nhất là bảy ngày làm việc
trước khi tiến hành bán đấu
giá hàng hoá, người tổ chức
đấu giá phải niêm yết việc
bán đấu giá tại nơi tổ chức
đấu giá, nơi trưng bày hàng
hoá và nơi đặt trụ sở của
người tổ chức đấu giá theo
quy định tại Điều 197 của
Luật này.
2.
Trường hợp người tổ chức đấu
giá hàng hóa là người bán
hàng thì thời hạn niêm yết
đấu giá hàng hóa do người
bán hàng tự quyết định.
Điều 197. Nội
dung thông báo và niêm yết
đấu giá hàng hóa
Thông
báo và niêm yết đấu giá hàng
hóa phải có đầy đủ các nội
dung sau đây:
1. Thời
gian, địa điểm đấu giá;
2. Tên,
địa chỉ của người tổ chức
đấu giá;
3. Tên,
địa chỉ của người bán hàng;
4. Danh
mục hàng hoá, số lượng, chất
lượng hàng hóa;
5. Giá
khởi điểm;
6.
Thông tin cần thiết liên
quan đến hàng hoá;
7. Địa
điểm, thời gian trưng bày
hàng hoá;
8. Địa
điểm, thời gian tham khảo hồ
sơ hàng hoá;
9. Địa
điểm, thời gian đăng ký mua
hàng hoá.
Điều 198. Những
người không được tham gia
đấu giá
1.
Người không có năng lực hành
vi dân sự, người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị
hạn chế năng lực hành vi dân
sự theo quy định của Bộ luật
dân sự hoặc người tại thời
điểm đấu giá không nhận
thức, làm chủ được hành vi
của mình.
2.
Những người làm việc trong
tổ chức bán đấu giá hàng
hoá; cha, mẹ, vợ, chồng, con
của những người đó.
3.
Người đã trực tiếp thực hiện
việc giám định hàng hoá bán
đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng,
con của người đó.
4.
Những người không có quyền
mua hàng hoá đấu giá theo
quy định của pháp luật.
Điều 199. Đăng ký
tham gia đấu giá
1.
Người tổ chức đấu giá có thể
yêu cầu người muốn tham gia
đấu giá phải đăng ký tham
gia trước khi bán đấu giá.
2.
Người tổ chức đấu giá có thể
yêu cầu người tham gia đấu
giá nộp một khoản tiền đặt
trước, nhưng không quá 2%
giá khởi điểm của hàng hoá
được đấu giá.
3.
Trường hợp người tham gia
đấu giá mua được hàng hoá
bán đấu giá thì khoản tiền
đặt trước được trừ vào giá
mua, nếu không mua được thì
khoản tiền đặt trước được
trả lại cho người đã nộp
khoản tiền đặt trước đó ngay
sau khi cuộc đấu giá kết
thúc.
4.
Trường hợp người đăng ký
tham gia đấu giá đã nộp một
khoản tiền đặt trước nhưng
sau đó không dự cuộc đấu giá
thì người tổ chức đấu giá có
quyền thu khoản tiền đặt
trước đó.
Điều 200. Trưng
bày hàng hoá đấu giá
Hàng
hoá, mẫu hàng hoá, tài liệu
giới thiệu về hàng hoá và
các thông tin cần thiết khác
về hàng hoá đó phải được
trưng bày tại địa điểm được
thông báo từ khi niêm yết.
Điều 201. Tiến
hành cuộc đấu giá
Cuộc
đấu giá được tiến hành theo
trình tự sau đây:
1.
Người điều hành đấu giá điểm
danh người đã đăng ký tham
gia đấu giá hàng hoá;
2.
Người điều hành đấu giá giới
thiệu từng hàng hoá bán đấu
giá, nhắc lại giá khởi điểm,
trả lời các câu hỏi của
người tham gia đấu giá và
yêu cầu người tham gia đấu
giá trả giá;
3. Đối
với phương thức trả giá lên,
người điều hành đấu giá phải
nhắc lại một cách rõ ràng,
chính xác giá đã trả sau
cùng cao hơn giá người trước
đã trả ít nhất là ba lần,
mỗi lần cách nhau ít nhất ba
mươi giây. Người điều hành
đấu giá chỉ được công bố
người mua hàng hoá bán đấu
giá, nếu sau ba lần nhắc lại
giá người đó đã trả mà không
có người nào trả giá cao
hơn;
4. Đối
với phương thức đặt giá
xuống, người điều hành đấu
giá phải nhắc lại một cách
rõ ràng, chính xác từng mức
giá được hạ xuống thấp hơn
giá khởi điểm ít nhất là ba
lần, mỗi lần cách nhau ít
nhất ba mươi giây. Người
điều hành đấu giá phải công
bố ngay người đầu tiên chấp
nhận mức giá khởi điểm hoặc
mức giá hạ thấp hơn mức giá
khởi điểm là người có quyền
mua hàng hóa đấu giá;
5.
Trường hợp có nhiều người
đồng thời trả mức giá cuối
cùng đối với phương thức trả
giá lên hoặc mức giá đầu
tiên đối với phương thức đặt
giá xuống, người điều hành
đấu giá phải tổ chức rút
thăm giữa những người đó và
công bố người rút trúng thăm
được mua là người mua hàng
hoá bán đấu giá;
6.
Người điều hành đấu giá phải
lập văn bản bán đấu giá hàng
hoá ngay tại cuộc đấu giá,
kể cả trong trường hợp đấu
giá không thành. Văn bản bán
đấu giá phải ghi rõ kết quả
đấu giá, có chữ ký của người
điều hành đấu giá, người mua
hàng và hai người chứng kiến
trong số những người tham
gia đấu giá; đối với hàng
hoá bán đấu giá phải có công
chứng nhà nước theo quy định
của pháp luật thì văn bản
bán đấu giá cũng phải được
công chứng.
Điều 202. Đấu giá
không thành
Cuộc
đấu giá được coi là không
thành trong các trường hợp
sau đây:
1.
Không có người tham gia đấu
giá, trả giá;
2. Giá
cao nhất đã trả thấp hơn mức
giá khởi điểm đối với phương
thức trả giá lên.
Điều 203. Văn bản
bán đấu giá hàng hoá
1. Văn
bản bán đấu giá hàng hoá là
văn bản xác nhận việc mua
bán. Văn bản bán đấu giá
hàng hoá phải có các nội
dung sau đây:
a) Tên,
địa chỉ của người tổ chức
đấu giá;
b) Tên,
địa chỉ của người điều hành
đấu giá;
c) Tên,
địa chỉ của người bán hàng;
d) Tên,
địa chỉ của người mua hàng;
đ) Thời
gian, địa điểm đấu giá;
e) Hàng
hoá bán đấu giá;
g) Giá
đã bán;
h) Tên,
địa chỉ của hai người chứng
kiến.
2. Văn
bản bán đấu giá hàng hoá
phải được gửi đến người bán
hàng, người mua hàng và các
bên có liên quan.
3.
Trường hợp đấu giá không
thành, trong văn bản bán đấu
giá hàng hoá phải nêu rõ kết
quả là đấu giá không thành
và phải có các nội dung quy
định tại các điểm a, b, c,
đ, e và h khoản 1 Điều này.
Điều 204. Rút lại
giá đã trả
1.
Trường hợp đấu giá theo
phương thức trả giá lên, nếu
người trả giá cao nhất rút
ngay lại giá đã trả thì cuộc
đấu giá vẫn được tiếp tục từ
giá của người trả giá liền
kề trước đó. Trường hợp bán
đấu giá theo phương thức đặt
giá xuống, nếu người đầu
tiên chấp nhận mức giá rút
ngay lại giá đã chấp nhận
thì cuộc đấu giá vẫn được
tiếp tục từ giá đã đặt liền
kề trước đó.
2.
Người rút lại giá đã trả
hoặc người rút lại việc chấp
nhận giá không được tiếp tục
tham gia đấu giá.
3.
Trường hợp giá bán hàng hoá
thấp hơn giá mà người rút
lại giá đã trả đối với
phương thức trả giá lên hoặc
giá mà người rút lại việc
chấp nhận đối với phương
thức đặt giá xuống thì người
đó phải trả khoản tiền chênh
lệch cho người tổ chức đấu
giá, nếu hàng hoá bán được
giá cao hơn thì người rút
lại không được hưởng khoản
tiền chênh lệch đó.
4.
Trường hợp cuộc đấu giá
không thành thì người rút
lại giá đã trả phải chịu chi
phí cho việc bán đấu giá và
không được hoàn trả khoản
tiền đặt trước.
Điều 205. Từ chối
mua
1. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, sau khi tuyên bố kết
thúc cuộc đấu giá, người mua
hàng bị ràng buộc trách
nhiệm; nếu sau đó người mua
hàng từ chối mua hàng thì
phải được người bán hàng
chấp thuận, nhưng phải chịu
mọi chi phí liên quan đến
việc tổ chức bán đấu giá.
2.
Trong trường hợp người mua
được hàng hoá đấu giá đã nộp
một khoản tiền đặt trước mà
từ chối mua thì không được
hoàn trả khoản tiền đặt
trước đó. Khoản tiền đặt
trước đó thuộc về người bán
hàng.
Điều 206. Đăng ký
quyền sở hữu
1. Văn
bản bán đấu giá hàng hoá
được dùng làm căn cứ để
chuyển quyền sở hữu đối với
hàng hoá đấu giá mà theo quy
định của pháp luật phải đăng
ký quyền sở hữu.
2. Căn
cứ vào văn bản bán đấu giá
hàng hoá và các giấy tờ hợp
lệ khác, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền có trách nhiệm
đăng ký quyền sở hữu hàng
hoá cho người mua hàng theo
quy định của pháp luật.
3.
Người bán hàng và người tổ
chức đấu giá có nghĩa vụ làm
thủ tục chuyển quyền sở hữu
hàng hoá cho người mua hàng.
Chi phí làm thủ tục chuyển
quyền sở hữu được trừ vào
tiền bán hàng hoá, trừ
trường hợp có thoả thuận
khác.
Điều 207. Thời
điểm thanh toán tiền mua
hàng hoá
Thời
điểm thanh toán tiền mua
hàng hoá do người tổ chức
đấu giá và người mua hàng
hoá đấu giá thoả thuận; nếu
không có thoả thuận thì thời
điểm thanh toán tiền mua
hàng hoá là thời điểm theo
quy định tại Điều 55 của
Luật này.
Điều 208. Địa
điểm thanh toán tiền mua
hàng hoá
Địa
điểm thanh toán tiền mua
hàng hoá do người tổ chức
đấu giá và người mua hàng
thoả thuận; nếu không có
thoả thuận thì địa điểm
thanh toán là trụ sở kinh
doanh của người tổ chức đấu
giá.
Điều 209. Thời
hạn giao hàng hoá bán đấu
giá
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác giữa người tổ chức đấu
giá và người mua hàng, thời
hạn giao hàng hoá bán đấu
giá được quy định như sau:
1. Đối
với hàng hoá không phải đăng
ký quyền sở hữu thì người tổ
chức đấu giá phải giao ngay
hàng hoá cho người mua hàng
sau khi lập văn bản bán đấu
giá;
2. Đối
với hàng hoá có đăng ký
quyền sở hữu thì người tổ
chức đấu giá phải tiến hành
ngay việc làm thủ tục chuyển
quyền sở hữu và giao hàng
cho người mua hàng ngay sau
khi hoàn thành thủ tục
chuyển quyền sở hữu.
Điều 210. Địa
điểm giao hàng hoá bán đấu
giá
1.
Trường hợp hàng hoá là những
vật gắn liền với đất đai thì
địa điểm giao hàng là nơi có
hàng hóa đó.
2.
Trường hợp hàng hoá là động
sản thì địa điểm giao hàng
là nơi tổ chức đấu giá, trừ
trường hợp người tổ chức đấu
giá và người mua hàng có
thoả thuận khác.
Điều 211. Thù lao
dịch vụ đấu giá hàng hoá
Trường
hợp không có thoả thuận về
mức thù lao dịch vụ đấu giá
hàng hóa thì thù lao được
xác định như sau:
1.
Trường hợp cuộc đấu giá
thành công thì thù lao dịch
vụ đấu giá được xác định
theo Điều 86 của Luật này;
2.
Trường hợp đấu giá không
thành thì người bán hàng
phải trả mức thù lao bằng
50% của mức thù lao quy định
tại khoản 1 Điều này.
Điều 212. Chi phí
liên quan đến đấu giá hàng
hoá
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác giữa người bán hàng và
người tổ chức đấu giá, chi
phí liên quan đến đấu giá
hàng hóa được xác định như
sau:
1.
Người bán hàng phải chịu chi
phí vận chuyển hàng hoá đến
địa điểm đã thoả thuận và
chi phí bảo quản hàng hoá
trong trường hợp không giao
hàng hoá cho người tổ chức
đấu giá bảo quản;
2.
Người tổ chức đấu giá chịu
chi phí bảo quản hàng hoá
được giao, chi phí niêm yết,
thông báo, tổ chức bán đấu
giá và các chi phí có liên
quan khác.
Điều 213. Trách
nhiệm đối với hàng hóa bán
đấu giá không phù hợp với
thông báo, niêm yết
1.
Trong thời hạn quy định tại
Điều 318 của Luật này, người
mua hàng có quyền trả lại
hàng hóa cho người tổ chức
đấu giá và yêu cầu bồi
thường thiệt hại nếu hàng
hóa bán đấu giá không phù
hợp với thông báo, niêm yết.
2.
Trường hợp người tổ chức đấu
giá quy định tại khoản 1
Điều này không phải là người
bán hàng và nội dung thông
báo, niêm yết không phù hợp
là do lỗi của người bán hàng
thì người tổ chức đấu giá có
quyền trả lại hàng hóa và
yêu cầu người bán hàng bồi
thường thiệt hại.
MỤC 3
ĐẤU THẦU HÀNG HÓA, DỊCH VỤ
Điều 214. Đấu
thầu hàng hoá, dịch vụ
1. Đấu
thầu hàng hoá, dịch vụ là
hoạt động thương mại, theo
đó một bên mua hàng hoá,
dịch vụ thông qua mời thầu
(gọi là bên mời thầu) nhằm
lựa chọn trong số các thương
nhân tham gia đấu thầu (gọi
là bên dự thầu) thương nhân
đáp ứng tốt nhất các yêu cầu
do bên mời thầu đặt ra và
được lựa chọn để ký kết và
thực hiện hợp đồng (gọi là
bên trúng thầu).
2. Các
quy định về đấu thầu trong
Luật này không áp dụng đối
với đấu thầu mua sắm công
theo quy định của pháp luật.
Điều 215. Hình
thức đấu thầu
1. Việc
đấu thầu hàng hoá, dịch vụ
được thực hiện theo một
trong hai hình thức sau đây:
a) Đấu
thầu rộng rãi là hình thức
đấu thầu mà bên mời thầu
không hạn chế số lượng các
bên dự thầu;
b) Đấu
thầu hạn chế là hình thức
đấu thầu mà bên mời thầu chỉ
mời một số nhà thầu nhất
định dự thầu.
2. Việc
chọn hình thức đấu thầu rộng
rãi hoặc đấu thầu hạn chế do
bên mời thầu quyết định.
Điều 216. Phương
thức đấu thầu
1.
Phương thức đấu thầu bao gồm
đấu thầu một túi hồ sơ và
đấu thầu hai túi hồ sơ. Bên
mời thầu có quyền lựa chọn
phương thức đấu thầu và phải
thông báo trước cho các bên
dự thầu.
2.
Trong trường hợp đấu thầu
theo phương thức đấu thầu
một túi hồ sơ, bên dự thầu
nộp hồ sơ dự thầu gồm đề
xuất về kỹ thuật, đề xuất về
tài chính trong một túi hồ
sơ theo yêu cầu của hồ sơ
mời thầu và việc mở thầu
được tiến hành một lần.
3.
Trong trường hợp đấu thầu
theo phương thức đấu thầu
hai túi hồ sơ thì bên dự
thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm
đề xuất về kỹ thuật, đề xuất
về tài chính trong từng túi
hồ sơ riêng biệt được nộp
trong cùng một thời điểm và
việc mở thầu được tiến hành
hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ
thuật sẽ được mở trước.
Điều 217. Sơ
tuyển các bên dự thầu
Bên mời
thầu có thể tổ chức sơ tuyển
các bên dự thầu nhằm lựa
chọn những bên dự thầu có
khả năng đáp ứng các điều
kiện mà bên mời thầu đưa
ra.
Điều 218. Hồ sơ
mời thầu
1. Hồ
sơ mời thầu bao gồm:
a)
Thông báo mời thầu;
b) Các
yêu cầu liên quan đến hàng
hóa, dịch vụ được đấu thầu;
c)
Phương pháp đánh giá, so
sánh, xếp hạng và lựa chọn
nhà thầu;
d)
Những chỉ dẫn khác liên quan
đến việc đấu thầu.
2. Chi
phí về việc cung cấp hồ sơ
cho bên dự thầu do bên mời
thầu quy định.
Điều 219. Thông
báo mời thầu
1.
Thông báo mời thầu gồm các
nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên,
địa chỉ của bên mời thầu;
b) Tóm
tắt nội dung đấu thầu;
c) Thời
hạn, địa điểm và thủ tục
nhận hồ sơ mời thầu;
d) Thời
hạn, địa điểm, thủ tục nộp
hồ sơ dự thầu;
đ)
Những chỉ dẫn để tìm hiểu hồ
sơ mời thầu.
2. Bên
mời thầu có trách nhiệm
thông báo rộng rãi trên các
phương tiện thông tin đại
chúng đối với trường hợp đấu
thầu rộng rãi hoặc gửi thông
báo mời đăng ký dự thầu đến
các nhà thầu đủ điều kiện
trong trường hợp đấu thầu
hạn chế.
Điều 220. Chỉ dẫn
cho bên dự thầu
Bên mời
thầu có trách nhiệm chỉ dẫn
cho bên dự thầu về các điều
kiện dự thầu, các thủ tục
được áp dụng trong quá trình
đấu thầu và giải đáp các câu
hỏi của bên dự thầu.
Điều 221. Quản lý
hồ sơ dự thầu
Bên mời
thầu có trách nhiệm quản lý
hồ sơ dự thầu.
Điều 222. Bảo đảm
dự thầu
1. Bảo
đảm dự thầu được thực hiện
dưới hình thức đặt cọc, ký
quỹ hoặc bảo lãnh dự thầu.
2. Bên
mời thầu có thể yêu cầu bên
dự thầu nộp tiền đặt cọc, ký
quỹ hoặc bảo lãnh dự thầu
khi nộp hồ sơ dự thầu. Tỷ lệ
tiền đặt cọc, ký quỹ dự thầu
do bên mời thầu quy định,
nhưng không quá 3% tổng giá
trị ước tính của hàng hoá,
dịch vụ đấu thầu.
3. Bên
mời thầu quy định hình thức,
điều kiện đặt cọc, ký quỹ
hoặc bảo lãnh dự thầu. Trong
trường hợp đặt cọc, ký quỹ
thì tiền đặt cọc, ký quỹ dự
thầu được trả lại cho bên dự
thầu không trúng thầu trong
thời hạn bảy ngày làm việc,
kể từ ngày công bố kết quả
đấu thầu.
4. Bên
dự thầu không được nhận lại
tiền đặt cọc, ký quỹ dự thầu
trong trường hợp rút hồ sơ
dự thầu sau thời điểm hết
hạn nộp hồ sơ dự thầu (gọi
là thời điểm đóng thầu),
không ký hợp đồng hoặc từ
chối thực hiện hợp đồng
trong trường hợp trúng thầu.
5. Bên
nhận bảo lãnh cho bên dự
thầu có nghĩa vụ bảo đảm dự
thầu cho bên được bảo lãnh
trong phạm vi giá trị tương
đương với số tiền đặt cọc,
ký quỹ.
Điều 223. Bảo mật
thông tin đấu thầu
1. Bên
mời thầu phải bảo mật hồ sơ
dự thầu.
2. Tổ
chức, cá nhân có liên quan
đến việc tổ chức đấu thầu và
xét chọn thầu phải giữ bí
mật thông tin liên quan đến
việc đấu thầu.
Điều 224. Mở thầu
1. Mở
thầu là việc tổ chức mở hồ
sơ dự thầu tại thời điểm đã
được ấn định hoặc trong
trường hợp không có thời
điểm được ấn định trước thì
thời điểm mở thầu là ngay
sau khi đóng thầu.
2.
Những hồ sơ dự thầu nộp đúng
hạn phải được bên mời thầu
mở công khai. Các bên dự
thầu có quyền tham dự mở
thầu.
3.
Những hồ sơ dự thầu nộp
không đúng hạn không được
chấp nhận và được trả lại
cho bên dự thầu dưới dạng
chưa mở.
Điều 225. Xét hồ
sơ dự thầu khi mở thầu
1. Bên
mời thầu xét tính hợp lệ của
hồ sơ dự thầu.
2. Bên
mời thầu có thể yêu cầu các
bên dự thầu giải thích những
nội dung chưa rõ trong hồ sơ
dự thầu. Việc yêu cầu và
giải thích hồ sơ dự thầu
phải được lập thành văn bản.
Điều 226. Biên
bản mở thầu
1. Khi
mở thầu, bên mời thầu và các
bên dự thầu có mặt phải ký
vào biên bản mở thầu.
2. Biên
bản mở thầu phải có các nội
dung sau đây:
a) Tên
hàng hoá, dịch vụ đấu thầu;
b)
Ngày, giờ, địa điểm mở thầu;
c) Tên,
địa chỉ của bên mời thầu,
các bên dự thầu;
d) Giá
bỏ thầu của các bên dự thầu;
đ) Các
nội dung sửa đổi, bổ sung và
các nội dung có liên quan,
nếu có.
Điều 227. Đánh
giá và so sánh hồ sơ dự thầu
1. Hồ
sơ dự thầu được đánh giá và
so sánh theo từng tiêu chuẩn
làm căn cứ để đánh giá toàn
diện.
Các
tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự
thầu do bên mời thầu quy
định.
2. Các
tiêu chuẩn quy định tại
khoản 1 Điều này được đánh
giá bằng phương pháp cho
điểm theo thang điểm hoặc
phương pháp khác đã được ấn
định trước khi mở thầu.
Điều 228. Sửa đổi
hồ sơ dự thầu
1. Các
bên dự thầu không được sửa
đổi hồ sơ dự thầu sau khi đã
mở thầu.
2.
Trong quá trình đánh giá và
so sánh các hồ sơ dự thầu,
bên mời thầu có thể yêu cầu
bên dự thầu làm rõ các vấn
đề có liên quan đến hồ sơ dự
thầu. Yêu cầu của bên mời
thầu và ý kiến trả lời của
bên dự thầu phải được lập
thành văn bản.
3.
Trường hợp bên mời thầu sửa
đổi một số nội dung trong hồ
sơ mời thầu, bên mời thầu
phải gửi nội dung đã sửa đổi
bằng văn bản đến tất cả các
bên dự thầu trước thời hạn
cuối cùng nộp hồ sơ dự thầu
ít nhất là mười ngày để các
bên dự thầu có điều kiện
hoàn chỉnh thêm hồ sơ dự
thầu của mình.
Điều 229. Xếp
hạng và lựa chọn nhà thầu
1. Căn
cứ vào kết quả đánh giá hồ
sơ dự thầu, bên mời thầu
phải xếp hạng và lựa chọn
các bên dự thầu theo phương
pháp đã được ấn định.
2.
Trong trường hợp có nhiều
bên tham gia dự thầu có số
điểm, tiêu chuẩn trúng thầu
ngang nhau thì bên mời thầu
có quyền chọn nhà thầu.
Điều 230. Thông
báo kết quả đấu thầu và ký
kết hợp đồng
1. Ngay
sau khi có kết quả đấu thầu,
bên mời thầu có trách nhiệm
thông báo kết quả đấu thầu
cho bên dự thầu.
2. Bên
mời thầu tiến hành hoàn
thiện và ký kết hợp đồng với
bên trúng thầu trên cơ sở
sau đây:
a) Kết
quả đấu thầu;
b) Các
yêu cầu nêu trong hồ sơ mời
thầu;
c) Nội
dung nêu trong hồ sơ dự
thầu.
Điều 231. Bảo đảm
thực hiện hợp đồng
1. Các
bên có thể thỏa thuận bên
trúng thầu phải đặt cọc, ký
quỹ hoặc được bảo lãnh để
bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Số tiền đặt cọc, ký quỹ do
bên mời thầu quy định, nhưng
không quá 10% giá trị hợp
đồng.
2. Biện
pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng có hiệu lực cho đến
thời điểm bên trúng thầu
hoàn thành nghĩa vụ hợp
đồng.
3. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên trúng thầu được
nhận lại tiền đặt cọc, ký
quỹ bảo đảm thực hiện hợp
đồng khi thanh lý hợp đồng.
Bên trúng thầu không được
nhận lại tiền đặt cọc, ký
quỹ bảo đảm thực hiện hợp
đồng nếu từ chối thực hiện
hợp đồng sau khi hợp đồng
được giao kết.
4. Sau
khi nộp tiền đặt cọc, ký quỹ
bảo đảm thực hiện hợp đồng,
bên trúng thầu được hoàn trả
tiền đặt cọc, ký quỹ dự
thầu.
Điều 232. Đấu
thầu lại
Việc
đấu thầu lại được tổ chức
khi có một trong các trường
hợp sau đây:
1. Có
sự vi phạm các quy định về
đấu thầu;
2. Các
bên dự thầu đều không đạt
yêu cầu đấu thầu.
MỤC 4
DỊCH VỤ LOGISTICS
Điều 233. Dịch vụ
logistics
Dịch vụ
logistics là hoạt động
thương mại, theo đó thương
nhân tổ chức thực hiện một
hoặc nhiều công việc bao gồm
nhận hàng, vận chuyển, lưu
kho, lưu bãi, làm thủ tục
hải quan, các thủ tục giấy
tờ khác, tư vấn khách hàng,
đóng gói bao bì, ghi ký mã
hiệu, giao hàng hoặc các
dịch vụ khác có liên quan
đến hàng hoá theo thoả thuận
với khách hàng để hưởng thù
lao. Dịch vụ logistics được
phiên âm theo tiếng Việt là
dịch vụ lô-gi-stíc.
Điều 234. Điều
kiện kinh doanh dịch vụ
logistics
1.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics là doanh nghiệp
có đủ điều kiện kinh doanh
dịch vụ logistics theo quy
định của pháp luật.
2.
Chính phủ quy định chi tiết
điều kiện kinh doanh dịch vụ
logistics.
Điều 235. Quyền
và nghĩa vụ của thương nhân
kinh doanh dịch vụ logistics
1. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics có các
quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Được
hưởng thù lao dịch vụ và các
chi phí hợp lý khác;
b)
Trong quá trình thực hiện
hợp đồng, nếu có lý do chính
đáng vì lợi ích của khách
hàng thì thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics có
thể thực hiện khác với chỉ
dẫn của khách hàng, nhưng
phải thông báo ngay cho
khách hàng;
c) Khi
xảy ra trường hợp có thể dẫn
đến việc không thực hiện
được một phần hoặc toàn bộ
những chỉ dẫn của khách hàng
thì phải thông báo ngay cho
khách hàng để xin chỉ dẫn;
d)
Trường hợp không có thoả
thuận về thời hạn cụ thể
thực hiện nghĩa vụ với khách
hàng thì phải thực hiện các
nghĩa vụ của mình trong thời
hạn hợp lý.
2. Khi
thực hiện việc vận chuyển
hàng hóa, thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics phải
tuân thủ các quy định của
pháp luật và tập quán vận
tải.
Điều 236. Quyền
và nghĩa vụ của khách hàng
Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, khách hàng có các
quyền và nghĩa vụ sau đây:
1.
Hướng dẫn, kiểm tra, giám
sát việc thực hiện hợp đồng;
2. Cung
cấp đầy đủ chỉ dẫn cho
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics;
3.
Thông tin chi tiết, đầy đủ,
chính xác và kịp thời về
hàng hoá cho thương nhân
kinh doanh dịch vụ
logistics;
4. Đóng
gói, ghi ký mã hiệu hàng hoá
theo hợp đồng mua bán hàng
hoá, trừ trường hợp có thỏa
thuận để thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics đảm
nhận công việc này;
5. Bồi
thường thiệt hại, trả các
chi phí hợp lý phát sinh cho
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics nếu người đó đã
thực hiện đúng chỉ dẫn của
mình hoặc trong trường hợp
do lỗi của mình gây ra;
6.
Thanh toán cho thương nhân
kinh doanh dịch vụ logistics
mọi khoản tiền đã đến hạn
thanh toán.
Điều 237. Các
trường hợp miễn trách nhiệm
đối với thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics
1.
Ngoài những trường hợp miễn
trách nhiệm quy định tại
Điều 294 của Luật này,
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics không phải chịu
trách nhiệm về những tổn
thất đối với hàng hoá phát
sinh trong các trường hợp
sau đây:
a) Tổn
thất là do lỗi của khách
hàng hoặc của người được
khách hàng uỷ quyền;
b) Tổn
thất phát sinh do thương
nhân kinh doanh dịch vụ
logistics làm đúng theo
những chỉ dẫn của khách hàng
hoặc của người được khách
hàng uỷ quyền;
c) Tổn
thất là do khuyết tật của
hàng hoá;
d) Tổn
thất phát sinh trong những
trường hợp miễn trách nhiệm
theo quy định của pháp luật
và tập quán vận tải nếu
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics tổ chức vận
tải;
đ)
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics không nhận được
thông báo về khiếu nại trong
thời hạn mười bốn ngày, kể
từ ngày thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics giao
hàng cho người nhận;
e) Sau
khi bị khiếu nại, thương
nhân kinh doanh dịch vụ
logistics không nhận được
thông báo về việc bị kiện
tại Trọng tài hoặc Toà án
trong thời hạn chín tháng,
kể từ ngày giao hàng.
2.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics không phải chịu
trách nhiệm về việc mất
khoản lợi đáng lẽ được hưởng
của khách hàng, về sự chậm
trễ hoặc thực hiện dịch vụ
logistics sai địa điểm không
do lỗi của mình.
Điều 238. Giới
hạn trách nhiệm
1. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, toàn bộ trách nhiệm
của thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics không vượt
quá giới hạn trách nhiệm đối
với tổn thất toàn bộ hàng
hoá.
2.
Chính phủ quy định chi tiết
giới hạn trách nhiệm đối với
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics phù hợp với các
quy định của pháp luật và
tập quán quốc tế.
3.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics không được
hưởng quyền giới hạn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại,
nếu người có quyền và lợi
ích liên quan chứng minh
được sự mất mát, hư hỏng
hoặc giao trả hàng chậm là
do thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics cố ý hành
động hoặc không hành động để
gây ra mất mát, hư hỏng,
chậm trễ hoặc đã hành động
hoặc không hành động một
cách mạo hiểm và biết rằng
sự mất mát, hư hỏng, chậm
trễ đó chắc chắn xảy ra.
Điều 239. Quyền
cầm giữ và định đoạt hàng
hoá
1.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics có quyền cầm
giữ một số lượng hàng hoá
nhất định và các chứng từ
liên quan đến số lượng hàng
hoá đó để đòi tiền nợ đã đến
hạn của khách hàng nhưng
phải thông báo ngay bằng văn
bản cho khách hàng.
2. Sau
thời hạn bốn mươi lăm ngày
kể từ ngày thông báo cầm giữ
hàng hoá hoặc chứng từ liên
quan đến hàng hoá, nếu khách
hàng không trả tiền nợ thì
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics có quyền định
đoạt hàng hoá hoặc chứng từ
đó theo quy định của pháp
luật; trong trường hợp hàng
hoá có dấu hiệu bị hư hỏng
thì thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics có quyền
định đoạt hàng hoá ngay khi
có bất kỳ khoản nợ đến hạn
nào của khách hàng.
3.
Trước khi định đoạt hàng
hoá, thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics phải thông
báo ngay cho khách hàng biết
về việc định đoạt hàng hoá
đó.
4. Mọi
chi phí cầm giữ, định đoạt
hàng hoá do khách hàng chịu.
5.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics được sử dụng số
tiền thu được từ việc định
đoạt hàng hoá để thanh toán
các khoản mà khách hàng nợ
mình và các chi phí có liên
quan; nếu số tiền thu được
từ việc định đoạt vượt quá
giá trị các khoản nợ thì số
tiền vượt quá phải được trả
lại cho khách hàng. Kể từ
thời điểm đó, thương nhân
kinh doanh dịch vụ logistics
không phải chịu trách nhiệm
đối với hàng hoá hoặc chứng
từ đã được định đoạt.
Điều 240. Nghĩa
vụ của thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics khi
cầm giữ hàng hoá
Khi
chưa thực hiện quyền định
đoạt hàng hoá theo quy định
tại Điều 239 của Luật này,
thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics thực hiện quyền
cầm giữ hàng hoá có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Bảo
quản, giữ gìn hàng hoá;
2.
Không được sử dụng hàng hoá
nếu không được bên có hàng
hoá bị cầm giữ đồng ý;
3. Trả
lại hàng hoá khi các điều
kiện cầm giữ, định đoạt hàng
hoá quy định tại Điều 239
của Luật này không còn;
4. Bồi
thường thiệt hại cho bên có
hàng hoá bị cầm giữ nếu làm
mất mát hoặc hư hỏng hàng
hoá cầm giữ.
MỤC 5
QUÁ CẢNH HÀNG HÓA QUA LÃNH
THỔ VIỆT NAM
VÀ DỊCH VỤ QUÁ CẢNH HÀNG HÓA
Điều 241. Quá
cảnh hàng hóa
Quá
cảnh hàng hóa là việc vận
chuyển hàng hóa thuộc sở hữu
của tổ chức, cá nhân nước
ngoài qua lãnh thổ Việt Nam,
kể cả việc trung chuyển,
chuyển tải, lưu kho, chia
tách lô hàng, thay đổi
phương thức vận tải hoặc các
công việc khác được thực
hiện trong thời gian quá
cảnh.
Điều 242. Quyền
quá cảnh hàng hóa
1. Mọi
hàng hóa thuộc sở hữu của tổ
chức, cá nhân nước ngoài đều
được quá cảnh lãnh thổ Việt
Nam và chỉ cần làm thủ tục
hải quan tại cửa khẩu nhập
và cửa khẩu xuất theo quy
định của pháp luật, trừ các
trường hợp sau đây:
a) Hàng
hóa là các loại vũ khí, đạn
dược, vật liệu nổ và các
loại hàng hóa có độ nguy
hiểm cao khác, trừ trường
hợp được Thủ tướng Chính phủ
cho phép;
b) Hàng
hóa thuộc diện cấm kinh
doanh, cấm xuất khẩu, cấm
nhập khẩu chỉ được quá cảnh
lãnh thổ Việt Nam khi được
Bộ trưởng Bộ Thương mại cho
phép.
2. Hàng
hóa quá cảnh khi xuất khẩu,
phương tiện vận tải chở hàng
quá cảnh khi xuất cảnh khỏi
lãnh thổ Việt Nam phải đúng
là toàn bộ hàng hóa đã nhập
khẩu, phương tiện vận tải đã
nhập cảnh vào lãnh thổ Việt
Nam.
3. Tổ
chức, cá nhân nước ngoài
muốn quá cảnh hàng hoá qua
lãnh thổ Việt Nam phải thuê
thương nhân Việt Nam kinh
doanh dịch vụ quá cảnh thực
hiện, trừ trường hợp quy
định tại khoản 4 Điều này.
4. Việc
tổ chức, cá nhân nước ngoài
tự mình thực hiện quá cảnh
hàng hóa qua lãnh thổ Việt
Nam, thuê thương nhân nước
ngoài thực hiện quá cảnh
hàng hoá qua lãnh thổ Việt
Nam được thực hiện theo điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên và phải tuân thủ
quy định của pháp luật Việt
Nam về xuất cảnh, nhập cảnh
và giao thông vận tải.
Điều 243. Tuyến
đường quá cảnh
1. Hàng
hóa chỉ được quá cảnh qua
các cửa khẩu quốc tế và theo
đúng những tuyến đường nhất
định trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Căn
cứ điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, Bộ trưởng
Bộ Giao thông vận tải quy
định cụ thể tuyến đường được
vận chuyển hàng hoá quá
cảnh.
3.
Trong thời gian quá cảnh,
việc thay đổi tuyến đường
được vận chuyển hàng hoá quá
cảnh phải được sự đồng ý của
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận
tải.
Điều 244. Quá
cảnh bằng đường hàng không
Quá
cảnh bằng đường hàng không
được thực hiện theo quy định
của điều ước quốc tế về hàng
không mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành
viên.
Điều 245. Giám
sát hàng hóa quá cảnh
Hàng
hóa quá cảnh lãnh thổ Việt
Nam phải chịu sự giám sát
của cơ quan Hải quan Việt
Nam trong toàn bộ thời gian
quá cảnh.
Điều 246. Thời
gian quá cảnh
1. Thời
gian quá cảnh lãnh thổ Việt
Nam tối đa là ba mươi ngày
kể từ ngày hoàn thành thủ
tục hải quan tại cửa khẩu
nhập, trừ trường hợp hàng
hóa được lưu kho tại Việt
Nam hoặc bị hư hỏng, tổn
thất trong quá trình quá
cảnh.
2. Đối
với trường hợp hàng hóa được
lưu kho tại Việt Nam hoặc bị
hư hỏng, tổn thất trong thời
gian quá cảnh cần phải có
thêm thời gian để lưu kho,
khắc phục hư hỏng, tổn thất
thì thời gian quá cảnh được
gia hạn tương ứng với thời
gian cần thiết để thực hiện
các công việc đó và phải
được cơ quan Hải quan nơi
làm thủ tục quá cảnh chấp
thuận; trường hợp hàng hóa
quá cảnh theo giấy phép của
Bộ trưởng Bộ Thương mại thì
phải được Bộ trưởng Bộ
Thương mại chấp thuận.
3.
Trong thời gian lưu kho và
khắc phục hư hỏng, tổn thất
quy định tại khoản 2 Điều
này, hàng hóa và phương tiện
vận tải chở hàng quá cảnh
vẫn phải chịu sự giám sát
của cơ quan Hải quan Việt
Nam.
Điều 247. Hàng
hoá quá cảnh tiêu thụ tại
Việt Nam
1. Hàng
hoá quá cảnh thuộc diện quy
định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều 242 của Luật
này không được phép tiêu thụ
tại Việt Nam.
2. Trừ
trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều này, hàng hoá
quá cảnh được phép tiêu thụ
tại Việt Nam nếu được sự
chấp thuận bằng văn bản của
Bộ trưởng Bộ Thương mại.
3. Việc
tiêu thụ hàng hoá quá cảnh
tại Việt Nam phải tuân theo
quy định của pháp luật Việt
Nam về nhập khẩu hàng hoá,
thuế, phí, lệ phí và các
nghĩa vụ tài chính khác.
Điều 248. Những
hành vi bị cấm trong quá
cảnh
1.
Thanh toán thù lao quá cảnh
bằng hàng hóa quá cảnh.
2. Tiêu
thụ trái phép hàng hóa,
phương tiện vận tải chở hàng
quá cảnh.
Điều 249. Dịch vụ
quá cảnh hàng hóa
Dịch vụ
quá cảnh hàng hóa là hoạt
động thương mại, theo đó
thương nhân thực hiện việc
quá cảnh cho hàng hóa thuộc
sở hữu của tổ chức, cá nhân
nước ngoài qua lãnh thổ Việt
Nam để hưởng thù lao.
Điều 250. Điều
kiện kinh doanh dịch vụ quá
cảnh
Thương
nhân kinh doanh dịch vụ quá
cảnh phải là doanh nghiệp có
đăng ký kinh doanh dịch vụ
vận tải, kinh doanh dịch vụ
logistics theo quy định tại
Điều 234 của Luật này.
Điều 251. Hợp
đồng dịch vụ quá cảnh
Hợp
đồng dịch vụ quá cảnh phải
được lập thành văn bản hoặc
bằng hình thức khác có giá
trị pháp lý tương đương.
Điều 252. Quyền
và nghĩa vụ của bên thuê
dịch vụ quá cảnh
1. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên thuê dịch vụ quá
cảnh có các quyền sau đây:
a) Yêu
cầu bên cung ứng dịch vụ quá
cảnh tiếp nhận hàng hóa tại
cửa khẩu nhập theo thời gian
đã thỏa thuận;
b) Yêu
cầu bên cung ứng dịch vụ quá
cảnh thông báo kịp thời về
tình trạng của hàng hóa quá
cảnh trong thời gian quá
cảnh lãnh thổ Việt Nam;
c) Yêu
cầu bên cung ứng dịch vụ quá
cảnh thực hiện mọi thủ tục
cần thiết để hạn chế những
tổn thất, hư hỏng đối với
hàng hóa quá cảnh trong thời
gian quá cảnh lãnh thổ Việt
Nam.
2. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên thuê dịch vụ quá
cảnh có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Đưa
hàng hóa đến cửa khẩu nhập
của Việt Nam theo đúng thời
gian đã thỏa thuận;
b) Cung
cấp đầy đủ cho bên cung ứng
dịch vụ quá cảnh các thông
tin cần thiết về hàng hóa;
c) Cung
cấp đầy đủ các chứng từ cần
thiết để bên cung ứng dịch
vụ quá cảnh làm thủ tục nhập
khẩu, vận chuyển trong lãnh
thổ Việt Nam và làm thủ tục
xuất khẩu;
d)
Thanh toán thù lao quá cảnh
và các chi phí hợp lý khác
cho bên cung ứng dịch vụ quá
cảnh.
Điều 253. Quyền
và nghĩa vụ của bên cung ứng
dịch vụ quá cảnh
1. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
quá cảnh có các quyền sau
đây:
a) Yêu
cầu bên thuê dịch vụ quá
cảnh đưa hàng hóa đến cửa
khẩu nhập của Việt Nam theo
đúng thời gian đã thỏa
thuận;
b) Yêu
cầu bên thuê dịch vụ quá
cảnh cung cấp đầy đủ thông
tin cần thiết về hàng hóa;
c) Yêu
cầu bên thuê dịch vụ quá
cảnh cung cấp đầy đủ chứng
từ cần thiết để làm thủ tục
nhập khẩu, vận chuyển trong
lãnh thổ Việt Nam và làm thủ
tục xuất khẩu;
d) Được
nhận thù lao quá cảnh và các
chi phí hợp lý khác.
2. Trừ
trường hợp có thỏa thuận
khác, bên cung ứng dịch vụ
quá cảnh có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Tiếp
nhận hàng hóa tại cửa khẩu
nhập theo thời gian đã thỏa
thuận;
b) Làm
thủ tục nhập khẩu và xuất
khẩu hàng hóa quá cảnh ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam;
c) Chịu
trách nhiệm đối với hàng hóa
quá cảnh trong thời gian quá
cảnh lãnh thổ Việt Nam;
d) Thực
hiện các công việc cần thiết
để hạn chế những tổn thất,
hư hỏng đối với hàng hóa quá
cảnh trong thời gian quá
cảnh lãnh thổ Việt Nam;
đ) Nộp
phí, lệ phí và thực hiện các
nghĩa vụ tài chính khác đối
với hàng hóa quá cảnh theo
quy định của pháp luật Việt
Nam;
e) Có
trách nhiệm hợp tác với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
của Việt Nam để xử lý những
vấn đề có liên quan đến hàng
hóa quá cảnh.
MỤC 6
DỊCH VỤ GIÁM ĐỊNH
Điều 254. Dịch vụ
giám định
Dịch vụ
giám định là hoạt động
thương mại, theo đó một
thương nhân thực hiện những
công việc cần thiết để xác
định tình trạng thực tế của
hàng hoá, kết quả cung ứng
dịch vụ và những nội dung
khác theo yêu cầu của khách
hàng.
Điều 255. Nội
dung giám định
Giám
định bao gồm một hoặc một số
nội dung về số lượng, chất
lượng, bao bì, giá trị hàng
hoá, xuất xứ hàng hoá, tổn
thất, độ an toàn, tiêu chuẩn
vệ sinh, phòng dịch, kết quả
thực hiện dịch vụ, phương
pháp cung ứng dịch vụ và các
nội dung khác theo yêu cầu
của khách hàng.
Điều 256. Thương
nhân kinh doanh dịch vụ giám
định thương mại
Chỉ các
thương nhân có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật
và được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh dịch vụ
giám định thương mại mới
được phép thực hiện dịch vụ
giám định và cấp chứng thư
giám định.
Điều 257. Điều
kiện kinh doanh dịch vụ giám
định thương mại
Thương
nhân kinh doanh dịch vụ giám
định thương mại phải có đủ
các điều kiện sau đây:
1. Là
doanh nghiệp được thành lập
theo quy định của pháp luật;
2. Có
giám định viên đủ tiêu chuẩn
theo quy định tại Điều 259
của Luật này;
3. Có
khả năng thực hiện quy
trình, phương pháp giám định
hàng hoá, dịch vụ theo quy
định của pháp luật, tiêu
chuẩn quốc tế hoặc đã được
các nước áp dụng một cách
phổ biến trong giám định
hàng hoá, dịch vụ đó.
Điều 258. Phạm vi
kinh doanh dịch vụ giám định
thương mại
Thương
nhân kinh doanh dịch vụ giám
định thương mại chỉ được
cung cấp dịch vụ giám định
trong các lĩnh vực giám định
khi có đủ các điều kiện quy
định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 257 của Luật này.
Điều 259. Tiêu
chuẩn giám định viên
1. Giám
định viên phải có đủ các
tiêu chuẩn sau đây:
a) Có
trình độ đại học hoặc cao
đẳng phù hợp với yêu cầu của
lĩnh vực giám định;
b) Có
chứng chỉ chuyên môn về lĩnh
vực giám định trong trường
hợp pháp luật quy định phải
có chứng chỉ chuyên môn;
c) Có
ít nhất ba năm công tác
trong lĩnh vực giám định
hàng hoá, dịch vụ.
2. Căn
cứ vào các tiêu chuẩn quy
định tại khoản 1 Điều này,
giám đốc doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ giám định công
nhận giám định viên và chịu
trách nhiệm trước pháp luật
về quyết định của mình.
Điều 260. Chứng
thư giám định
1.
Chứng thư giám định là văn
bản xác định tình trạng thực
tế của hàng hóa, dịch vụ
theo các nội dung giám định
được khách hàng yêu cầu.
2.
Chứng thư giám định phải có
chữ ký của người đại diện có
thẩm quyền của thương nhân
kinh doanh dịch vụ giám
định, chữ ký, họ tên của
giám định viên và phải được
đóng dấu nghiệp vụ được đăng
ký tại cơ quan có thẩm
quyền.
3.
Chứng thư giám định chỉ có
giá trị đối với những nội
dung được giám định.
4.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định chịu trách
nhiệm về tính chính xác của
kết quả và kết luận trong
Chứng thư giám định.
Điều 261. Giá trị
pháp lý của chứng thư giám
định đối với bên yêu cầu
giám định
Chứng
thư giám định có giá trị
pháp lý đối với bên yêu cầu
giám định nếu bên yêu cầu
giám định không chứng minh
được kết quả giám định không
khách quan, không trung thực
hoặc sai về kỹ thuật, nghiệp
vụ giám định.
Điều 262. Giá trị
pháp lý của chứng thư giám
định đối với các bên trong
hợp đồng
1.
Trong trường hợp các bên có
thoả thuận về việc sử dụng
chứng thư giám định của một
thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định cụ thể thì
chứng thư giám định đó có
giá trị pháp lý đối với tất
cả các bên nếu không chứng
minh được kết quả giám định
không khách quan, không
trung thực hoặc sai về kỹ
thuật, nghiệp vụ giám định.
2.
Trong trường hợp các bên
không có thoả thuận về việc
sử dụng chứng thư giám định
của một thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định cụ
thể thì chứng thư giám định
chỉ có giá trị pháp lý đối
với bên yêu cầu giám định
theo quy định tại Điều 261
của Luật này. Bên kia trong
hợp đồng có quyền yêu cầu
giám định lại.
3. Khi
chứng thư giám định lại có
kết quả khác với chứng thư
giám định ban đầu thì xử lý
như sau:
a)
Trường hợp thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định cấp
chứng thư giám định ban đầu
thừa nhận kết quả của chứng
thư giám định lại thì kết
quả của chứng thư giám định
lại có giá trị pháp lý với
tất cả các bên;
b)
Trường hợp thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định cấp
chứng thư giám định ban đầu
không thừa nhận kết quả của
chứng thư giám định lại thì
các bên thoả thuận lựa chọn
một thương nhân kinh doanh
dịch vụ giám định khác giám
định lại lần thứ hai. Kết
quả giám định lại lần thứ
hai có giá trị pháp lý với
tất cả các bên.
Điều 263. Quyền
và nghĩa vụ của thương nhân
kinh doanh dịch vụ giám định
1.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định có các quyền
sau đây:
a) Yêu
cầu khách hàng cung cấp đầy
đủ, chính xác, kịp thời các
tài liệu cần thiết để thực
hiện dịch vụ giám định;
b) Nhận
thù lao dịch vụ giám định và
các chi phí hợp lý khác.
2.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định có các nghĩa vụ
sau đây:
a) Chấp
hành các tiêu chuẩn và các
quy định khác của pháp luật
có liên quan đến dịch vụ
giám định;
b) Giám
định trung thực, khách quan,
độc lập, kịp thời, đúng quy
trình, phương pháp giám
định;
c) Cấp
chứng thư giám định;
d) Trả
tiền phạt vi phạm, bồi
thường thiệt hại theo quy
định tại Điều 266 của Luật
này.
Điều 264. Quyền
của khách hàng
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, khách hàng có các
quyền sau đây:
1. Yêu
cầu thương nhân kinh doanh
dịch vụ giám định thực hiện
việc giám định theo nội dung
đã thoả thuận;
2. Yêu
cầu giám định lại nếu có lý
do chính đáng để cho rằng
thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định không thực hiện
đúng các yêu cầu của mình
hoặc thực hiện giám định
thiếu khách quan, trung thực
hoặc sai về kỹ thuật, nghiệp
vụ giám định;
3. Yêu
cầu trả tiền phạt vi phạm,
bồi thường thiệt hại theo
quy định tại Điều 266 của
Luật này.
Điều 265. Nghĩa
vụ của khách hàng
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, khách hàng có các
nghĩa vụ sau đây:
1. Cung
cấp đầy đủ, chính xác, kịp
thời các tài liệu cần thiết
cho thương nhân kinh doanh
dịch vụ giám định khi có yêu
cầu;
2. Trả
thù lao dịch vụ giám định và
các chi phí hợp lý khác.
Điều 266. Phạt vi
phạm, bồi thường thiệt hại
trong trường hợp kết quả
giám định sai
1.
Trường hợp thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định cấp
chứng thư giám định có kết
quả sai do lỗi vô ý của mình
thì phải trả tiền phạt cho
khách hàng. Mức phạt do các
bên thỏa thuận, nhưng không
vượt quá mười lần thù lao
dịch vụ giám định.
2.
Trường hợp thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định cấp
chứng thư giám định có kết
quả sai do lỗi cố ý của mình
thì phải bồi thường thiệt
hại phát sinh cho khách hàng
trực tiếp yêu cầu giám định.
3.
Khách hàng có nghĩa vụ chứng
minh kết quả giám định sai
và lỗi của thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định.
Điều 267. Uỷ
quyền giám định
Trường
hợp thương nhân kinh doanh
dịch vụ giám định nước ngoài
được thuê thực hiện giám
định mà chưa được phép hoạt
động tại Việt Nam thì thương
nhân đó được ủy quyền cho
thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định đã được phép
hoạt động tại Việt Nam thực
hiện dịch vụ giám định nhưng
vẫn phải chịu trách nhiệm về
kết quả giám định.
Điều 268. Giám
định theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước
1.
Thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định có đủ điều
kiện, tiêu chuẩn phù hợp với
yêu cầu giám định có trách
nhiệm giám định theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước.
2. Cơ
quan nhà nước yêu cầu giám
định có trách nhiệm trả thù
lao giám định cho thương
nhân kinh doanh dịch vụ giám
định theo thỏa thuận giữa
hai bên trên cơ sở giá thị
trường.
MỤC 7
CHO THUÊ HÀNG HÓA
Điều 269. Cho
thuê hàng hoá
Cho
thuê hàng hoá là hoạt động
thương mại, theo đó một bên
chuyển quyền chiếm hữu và sử
dụng hàng hoá (gọi là bên
cho thuê) cho bên khác (gọi
là bên thuê) trong một thời
hạn nhất định để nhận tiền
cho thuê.
Điều 270. Quyền
và nghĩa vụ của bên cho thuê
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên cho thuê có các
quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Giao
hàng hoá cho thuê theo đúng
hợp đồng cho thuê với bên
thuê;
2. Bảo
đảm cho bên thuê quyền chiếm
hữu và sử dụng hàng hoá cho
thuê không bị tranh chấp bởi
bên thứ ba liên quan trong
thời gian thuê;
3. Bảo
đảm hàng hoá cho thuê phù
hợp với mục đích sử dụng của
bên thuê theo thoả thuận của
các bên;
4. Bảo
dưỡng và sửa chữa hàng hóa
cho thuê trong thời hạn hợp
lý. Trường hợp việc sửa chữa
và bảo dưỡng hàng hóa cho
thuê gây phương hại đến việc
sử dụng hàng hóa đó của bên
thuê thì phải có trách nhiệm
giảm giá thuê hoặc kéo dài
thời hạn cho thuê tương ứng
với thời gian bảo dưỡng, sửa
chữa;
5. Nhận
tiền cho thuê theo thoả
thuận hoặc theo quy định của
pháp luật;
6. Nhận
lại hàng hoá cho thuê khi
kết thúc thời hạn cho thuê.
Điều 271. Quyền
và nghĩa vụ của bên thuê
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên thuê có các quyền
và nghĩa vụ sau đây:
1.
Chiếm hữu và sử dụng hàng
hoá cho thuê theo hợp đồng
cho thuê và theo quy định
của pháp luật. Trong trường
hợp không có thỏa thuận cụ
thể về cách thức sử dụng
hàng hóa cho thuê thì hàng
hóa cho thuê phải được sử
dụng theo cách thức phù hợp
với tính chất của hàng hóa
đó;
2. Giữ
gìn và bảo quản hàng hoá cho
thuê trong thời hạn thuê và
trả lại hàng hoá đó cho bên
cho thuê khi hết thời hạn;
3. Yêu
cầu bên cho thuê thực hiện
việc bảo dưỡng, sửa chữa
hàng hóa; nếu bên cho thuê
không thực hiện nghĩa vụ này
trong một thời hạn hợp lý
thì bên thuê có thể tiến
hành bảo dưỡng, sửa chữa
hàng hóa cho thuê và bên cho
thuê phải chịu các chi phí
hợp lý của việc bảo dưỡng,
sửa chữa đó;
4. Trả
tiền thuê hàng hoá theo thoả
thuận hoặc theo quy định của
pháp luật;
5.
Không được bán, cho thuê lại
hàng hoá đã thuê.
Điều 272. Sửa
chữa, thay đổi tình trạng
ban đầu của hàng hóa cho
thuê
1. Bên
thuê không được sửa chữa,
thay đổi tình trạng ban đầu
của hàng hóa cho thuê nếu
không được bên cho thuê chấp
thuận.
2.
Trường hợp bên thuê thực
hiện việc sửa chữa, thay đổi
tình trạng ban đầu của hàng
hóa cho thuê mà không có sự
chấp thuận của bên cho thuê
thì bên cho thuê có quyền
yêu cầu bên thuê khôi phục
lại tình trạng ban đầu của
hàng hóa cho thuê hoặc yêu
cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 273. Trách
nhiệm đối với tổn thất trong
thời hạn thuê
1. Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, bên cho thuê phải chịu
tổn thất đối với hàng hoá
cho thuê trong thời hạn thuê
nếu bên thuê không có lỗi
gây ra tổn thất đó.
2.
Trong trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều này, bên
cho thuê có trách nhiệm sửa
chữa hàng hoá cho thuê trong
thời hạn hợp lý để bảo đảm
mục đích sử dụng của bên
thuê.
Điều 274. Chuyển
rủi ro đối với hàng hóa cho
thuê
Trường
hợp các bên có thỏa thuận về
việc chuyển rủi ro cho bên
thuê nhưng không xác định
thời điểm chuyển rủi ro thì
thời điểm chuyển rủi ro được
xác định như sau:
1.
Trường hợp hợp đồng cho thuê
có liên quan đến việc vận
chuyển hàng hoá:
a) Nếu
hợp đồng không yêu cầu giao
hàng hoá cho thuê tại một
địa điểm cụ thể thì rủi ro
sẽ chuyển cho bên thuê khi
hàng hoá cho thuê được giao
cho người vận chuyển đầu
tiên;
b) Nếu
hợp đồng yêu cầu phải giao
hàng hoá cho thuê tại một
địa điểm cụ thể thì rủi ro
chuyển cho bên thuê hoặc
người được bên thuê ủy quyền
nhận hàng tại địa điểm đó;
2.
Trường hợp hàng hoá cho thuê
được nhận bởi người nhận
hàng để giao mà không phải
là người vận chuyển thì rủi
ro chuyển cho bên thuê khi
người nhận hàng xác nhận
quyền chiếm hữu hàng hoá cho
thuê của bên thuê;
3.
Trong các trường hợp khác
không được quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này
thì rủi ro được chuyển cho
bên thuê khi bên thuê nhận
hàng hoá cho thuê.
Điều 275. Hàng
hoá cho thuê không phù hợp
với hợp đồng
Trường
hợp không có thỏa thuận cụ
thể, hàng hoá được coi là
không phù hợp với hợp đồng
khi hàng hoá đó thuộc một
trong các trường hợp sau
đây:
1.
Không phù hợp với mục đích
sử dụng thông thường của các
hàng hoá cùng chủng loại;
2.
Không phù hợp với mục đích
cụ thể mà bên thuê đã cho
bên cho thuê biết hoặc bên
cho thuê phải biết vào thời
điểm giao kết hợp đồng;
3.
Không bảo đảm chất lượng như
chất lượng của mẫu hàng mà
bên cho thuê đã giao cho bên
thuê.
Điều 276. Từ chối
nhận hàng
1. Bên
cho thuê phải dành cho bên
thuê một thời gian hợp lý
sau khi nhận được hàng hoá
để kiểm tra.
2. Bên
thuê có quyền từ chối nhận
hàng hoá trong các trường
hợp sau đây:
a) Bên
cho thuê không dành cho bên
thuê điều kiện, thời gian
hợp lý để kiểm tra hàng hoá;
b) Khi
kiểm tra hàng hóa, bên thuê
phát hiện thấy hàng hoá
không phù hợp với hợp đồng.
Điều 277. Khắc
phục, thay thế hàng hoá cho
thuê không phù hợp với hợp
đồng
1.
Trong trường hợp bên thuê từ
chối nhận hàng hoá cho thuê
do không phù hợp với hợp
đồng, nếu thời hạn thực hiện
việc giao hàng vẫn còn thì
bên cho thuê có thể thông
báo ngay cho bên thuê về
việc khắc phục hoặc thay thế
hàng hoá và thực hiện việc
khắc phục hoặc thay thế hàng
hoá đó trong khoảng thời
gian còn lại.
2. Khi
bên cho thuê thực hiện việc
khắc phục quy định tại khoản
1 Điều này mà gây bất lợi
hoặc làm phát sinh chi phí
bất hợp lý cho bên thuê thì
bên thuê có quyền yêu cầu
bên cho thuê khắc phục bất
lợi hoặc trả chi phí phát
sinh đó.
Điều 278. Chấp
nhận hàng hoá cho thuê
1. Bên
thuê được coi là đã chấp
nhận hàng hoá cho thuê sau
khi bên thuê có cơ hội hợp
lý để kiểm tra hàng hoá cho
thuê và thực hiện một trong
các hành vi sau đây:
a)
Không từ chối hàng hoá cho
thuê;
b) Xác
nhận sự phù hợp của hàng hoá
cho thuê với thoả thuận
trong hợp đồng;
c) Xác
nhận việc sẽ nhận hàng hoá
đó, dù không phù hợp với
thoả thuận trong hợp đồng.
2.
Trường hợp bên thuê phát
hiện ra sự không phù hợp với
hợp đồng của hàng hóa sau
khi đã chấp nhận hàng hóa mà
sự không phù hợp đó có thể
được xác định thông qua việc
kiểm tra một cách hợp lý
trước khi chấp nhận hàng hóa
thì bên thuê không được dựa
vào sự không phù hợp đó để
trả lại hàng.
Điều 279. Rút lại
chấp nhận
1. Bên
thuê có thể rút lại chấp
nhận đối với một phần hoặc
toàn bộ hàng hoá cho thuê
nếu sự không phù hợp của
hàng hoá cho thuê làm cho
bên thuê không đạt được mục
đích giao kết hợp đồng và
thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Bên
cho thuê không khắc phục một
cách hợp lý theo quy định
tại Điều 277 của Luật này;
b) Bên
thuê không phát hiện được sự
không phù hợp của hàng hoá
xuất phát từ bảo đảm của bên
cho thuê.
2. Việc
rút lại chấp nhận phải được
thực hiện trong khoảng thời
gian hợp lý, nhưng không quá
ba tháng, kể từ thời điểm
bên thuê chấp nhận hàng
hoá.
Điều 280. Trách
nhiệm đối với khiếm khuyết
của hàng hoá cho thuê
Trừ
trường hợp có thoả thuận
khác, trách nhiệm đối với
khiếm khuyết của hàng hoá
cho thuê được quy định như
sau:
1.
Trong thời hạn thuê, bên cho
thuê phải chịu trách nhiệm
về bất kỳ khiếm khuyết nào
của hàng hoá cho thuê đã có
vào thời điểm hàng hóa được
giao cho bên thuê, trừ
trường hợp quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này;
2. Bên
cho thuê không chịu trách
nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết
nào của hàng hoá đã có trước
thời điểm giao kết hợp đồng
mà bên thuê đã biết hoặc
phải biết về những khiếm
khuyết đó;
3. Bên
cho thuê không chịu trách
nhiệm đối với những khiếm
khuyết của hàng hoá được
phát hiện sau khi bên thuê
chấp nhận hàng hoá cho thuê
mà khiếm khuyết đó có thể
được bên thuê phát hiện nếu
thực hiện việc kiểm tra một
cách hợp lý trước khi chấp
nhận hàng hóa;
4. Bên
cho thuê phải chịu trách
nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết
nào phát sinh sau thời điểm
chuyển rủi ro nếu khiếm
khuyết đó xuất phát từ việc
bên cho thuê vi phạm nghĩa
vụ đã cam kết của mình.
Điều 281.